vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 28/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm l, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 15, 38, 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 29/10/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hoàng Anh - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HS-ST
Ngày 28 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.

Thẩm phán: Ông Hồ Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Tý; Bà Đặng Hồng Luyến; Bà Lê Kim Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2022; Thông báo hoãn phiên tòa số 30/TB-TA ngày 07/11/2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Hoàng A, sinh ngày 01/01/1987; tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh G; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr và bà Nguyễn Thị Th; có vợ Lê Ngọc G và 02 người con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016); tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: chưa vi phạm pháp luật; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2021 đến nay; bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Anh: Ông Trần Văn Độ. Là Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Trần Độ, Đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang; có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, thành phố N, tỉnh G; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh G; có mặt.

2. Nguyễn Văn V, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, thành phố N, tỉnh G; vắng mặt.

3. Nguyễn Thị S, sinh năm 1989.

Nơi cư trú: ấp A, xã T, thành phố N, tỉnh G; vắng mặt.

4. Nguyễn Vũ L, sinh năm 1999.

Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh G; vắng mặt.

5. Trương Văn H, sinh năm 1999.

Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh G; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Minh T, sinh năm 1978; vắng mặt.

2. Nguyễn Thu Th, sinh năm 1989; vắng mặt.

3. Phạm Thị U, sinh năm 1968; vắng mặt.

4. Võ Thị D, sinh năm 1949; vắng mặt.

5. Võ Kim Đ, sinh năm 1956; vắng mặt.

6. Phạm Thị H, sinh năm 1962; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 26/10/2021, bị hại Nguyễn Văn Đ cùng Nguyễn Văn V đến nhà của Nguyễn Văn H tại ấp Tân Phú B1, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang để dự đám giỗ. Nhậu tại đám đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Đ, H, V đi qua nhà của bà Huỳnh Thị T thuộc ấp Tân Phú A1, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (mẹ vợ trước của Đ) chơi. Khi đi, Đ và H đi bộ, còn V thì chạy xe mô tô đến đậu dưới chân cầu Bà Bống phía bên ấp Tân Phú A1. Cả 03 người sang nhà bà T bằng bè làm bằng thùng phi. Tại đây, Đ, H, V và cha vợ trước của Đ tổ chức nhậu đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày thì nghỉ. Đ, H và V xuống bè bơi qua cầu Bà Bống để về nhà H, khi đi trên bè Đ đùa xô H ngã xuống sông nên Đ và V lên bờ trước ngồi đợi H. Lúc này bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A sau khi làm công cho ông Võ Văn Kh ấp Tân Phú B1, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp điều khiển xe mô tô Wave Trung Quốc, biển số 99F2-4374 về đến cầu Bà Bống thì gặp Đ đang ngồi trên cầu, trên tay có ôm một con chó con. Hoàng A dừng xe lại nói: “Đu, con chó thấy cưng quá hé”, Đ trả lời: “Ừ, con chó mới xin bạn ơi”; nói xong Đ gọi H “Lẹ đi H ơi!”. Lúc này, Hoàng A nhìn thấy V đang dắt xe ra trước đầu xe của mình, còn Đ thì trên cầu đi xuống. Nghĩ là Đ và V chặn đầu xe của mình lại để kiếm chuyện nên Hoàng A vừa điều khiển xe bỏ đi, vừa quay lại chửi nhóm Đ: “ĐM, tao con ông Trung nè, tụi mày muốn gì xuống kiếm tao”.

H sau khi lên bờ cùng V lên xe mô tô chạy về nhà H trước, còn Đ thì đi bộ phía sau. Lúc này, Hoàng A điều khiển xe về đến nhà thì gặp em ruột là Nguyễn Vũ L và em rể là Trương Văn H đang ngồi nhậu. Hoàng A nói: “Có mấy thằng này nó chặn đường tao” và kêu L lên xe đi công chuyện. Khi đi, bị cáo Hoàng A vào nhà lấy ra 02 ống tuýt sắt đưa L cầm rồi điều khiển xe chở L đến Trường tiểu học Mùa Xuân 3 thì đậu xe tại đây. Khi nhìn thấy Đ đang đi bộ, bị cáo Hoàng A và L trên tay mỗi người cầm một đoạn ống tuýp bằng kim loại rượt đánh Đ. Lúc này H cũng vừa chạy bộ đến đứng cặp lề lộ, trên tay có cầm theo một cây vít cán màu vàng nhưng không tham gia đánh Đ. Phát hiện bị cáo Hoàng A và L đuổi đánh, Đ bỏ chạy vào nhà anh Nguyễn Minh T, đồng thời truy hô cho V và H hay. Khi vào nhà ông Tuấn Đ lấy 01 con dao bầu (loại dao dùng làm cá) đi ra, H cầm 01 con dao tự chế, V tay không quay lại định đánh nhau với Hoàng A và L. Thấy phía Đ đông người hơn và có cầm hung khí nên bị cáo Hoàng A điều khiển xe bỏ chạy về trước. Một lúc sau thì điều khiển xe quay trở lại mang theo một phích nhựa chứa xăng bên trong; khi đến cầu Bà Bống bị cáo dừng xe ở giữa cầu, bỏ xe ngã vào lan can bên phải theo hướng di chuyển của bị cáo rồi dùng tay trái cầm ca nhựa đi xuống dốc cầu, dùng tay phải đút vào túi quần bên phải lấy hột quẹt đánh lửa bằng IC ra cầm sẵn trên tay phải và nói: “Đụ má, bữa nay tao liều sống chết với tụi mày”. Khi thấy bị cáo Hoàng A cả ba H, V và Đ quay lại tiến về phía Hoàng A; H và V đi trước, Đ đi phía sau. Khi khoảng cách giữa nhóm H, V với bị cáo còn khoảng 2,4 mét thì Đ đi vượt lên trước để ngăn H lại. Lúc này, bị cáo Hoàng A dùng tay phải mở nắp ca nhựa ném bên đường, tay trái cầm ca nhựa đựng xăng, tay phải cầm hột quẹt bật lửa đốt xăng cháy rồi tạt vào nhóm Đ, H, V. Hậu quả, Đ bị tạt trúng và bị cháy bỏng toàn thân. Sau đó Đ được người thân đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang để cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ điều trị đến ngày 10/11/2021 thì được ra viện.

Tại Kết luận giám định số 4681/C09B ngày 16/12/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Trong 01 (một) nắp phích nhựa màu vàng trắng, đường kính 12 cm được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần xăng dầu; 01 (một) mảnh vải thun màu trắng, kích thước (17x13) cm bị cháy biến dạng, ám khói đen có tìm thấy thành phần xăng dầu”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 168/21/TgT ngày 19/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang kết luận: “Tổng tỷ lệ thương tích gây tổn hại sức khỏe của Nguyễn Văn Đ là 47% (bốn mươi bảy phần trăm)”.

Tại Bản kết luận số 01/KL-HĐĐGTS ngày 25/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hậu Giang Kết luận: “Giá trị thiệt hại tài sản xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 99F2-4374 (thay thế phụ tùng, linh kiện và công thợ sửa chữa) tại thời điểm định giá tháng 10/2021 là 978.300 đồng (chín trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm đồng)”.

Các vật chứng, đồ vật, tài liệu của vụ án gồm:

- Một xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 99F2-4374.

- Một con dao tự chế bằng kim loại có tổng độ dài 75cm, chiều ngang 5cm;

- Một chiếc dép nhựa màu đen, kích thước (25x10)cm;

- Một cây vít cán màu vàng, dài 30cm.

Đối với nắp phích nhựa màu vàng trắng, đường kính 12cm và một mảnh vải thun màu trắng, kích thước (17x13)cm bị cháy biến dạng, ám khói đen trong quá trình giám định đã sử dụng hết. Cơ quan giám định không hoàn lại.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Nguyễn Văn Đ yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A có trách nhiệm bồi thường tiền thuốc, chi phí điều trị và thiệt hại ngày công lao động tổng số tiền 65.150.000đ (sáu mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 09 tháng 11 năm 2022 Nguyễn Văn Đ có đơn yêu cầu buộc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe số tiền 96.000.000đ (chín mươi sáu triệu đồng).

Ngày 18 tháng 11 năm 2022 đại diện gia đình bị cáo ông Nguyễn Văn Tr (cha ruột bị cáo) tự nguyện nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) để khắc phục quả cho bị hại thay bị cáo.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-P1 ngày 15 tháng 7 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A về tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022 Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang ra Quyết định số 37/2022/HSST- QĐ trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung.

Tại Cáo trạng số 39/CT-VKS-P1 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A về tội Giết người theo quy định tại điểm l, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A phạm tội Giết người.

Áp dụng: điểm l, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 15, 38, 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A từ 13 (mười ba) năm đến 14 (mười bốn) năm tù.

Vật chứng vụ án đề nghị, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại có tổng độ dài 75cm, chiều ngang 5cm; 01 (một) chiếc dép nhựa màu đen, kích thước (25x10)cm; 01 (một) cây vít cán màu vàng, dài 30cm. Đề nghị hoàn trả cho bị cáo một xe mô tô đã thu giữ.

Về trách nhiệm dân sự, đề nghị: Ghi nhận tự nguyện thỏa thuận của bị hại và bị cáo tại phiên tòa. Buộc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho bị hại số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Phát biểu tự bào chữa: Bị cáo không tự phát biểu bào chữa.

Phát biểu bào chữa cho bị cáo: Về tội danh, người bào chữa thống nhất hành vi của bị cáo là phạm tội Giết người như cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tình tiết giảm nhẹ, thống nhất như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có tác động gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự cân nhắc mức hình phạt phù hợp nhẹ nhất tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.

Bị hại tại phiên tòa phát biểu: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự yêu cầu buộc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe trị giá bằng số tiền 50.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không phát biểu yêu cầu.

Phát biểu đối đáp: Không ai phát biểu đối đáp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về xét xử vắng mặt: một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: do nghi ngờ bị nhóm bị hại Nguyễn Văn Đ chặn đầu xe gây sự, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/10/2021, bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A mang theo khoảng hơn một xị (250ml) xăng, đựng trong pích nhựa, bật lửa đốt cháy rồi tạt vào người của bị hại Nguyễn Văn Đ gây thương tích. Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 168/21/TgT ngày 19/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Đ bị tổn hại sức khỏe 47%. Xét hành vi sử dụng xăng, loại chất lỏng rất nguy hiểm do dễ cháy bật lửa đốt, tạt vào người bị hại và bỏ mặc hậu quả xảy ra, mà bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A thực hiện như nêu trên, đủ yếu tố cấu thành tội Giết người như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

. Về khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A thực hiện hành vi phạm tội Giết người “Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” và “Có tính chất côn đồ”, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm l, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

. Xét tính nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả gây ra

. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang cho người dân tại địa phương. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống (bị cáo nghi ngờ mình bị nhóm của bị hại Đạt chặn xe gây sự), bị cáo không đủ bình tĩnh để cư xử phù hợp pháp luật mà lôi kéo anh em của mình đi đánh nhau. Đến nơi, khi phát hiện nhóm của Đạt đông hơn và có mang theo hung khí bị cáo đã bỏ về nhà trước. Sau khi nghe người thân nói lại L bị nhóm Đ đánh, H bị kề dao vào cổ đe dọa bị cáo quyết ăn thua đủ rồi âm thầm mang pích xăng đi tìm nhóm Đ, tạt xăng đã đốt cháy vào người Đ và để mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện rõ tính côn đồ, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng lao động của bị hại lâu dài, đẩy gia đình vào hoàn cảnh khó khăn.

. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nên nhận thức được hành vi dùng xăng bật lửa đốt cháy và tạt vào người là có thể tước đoạt quyền được sống của bị hại. Nhưng để thỏa mãn sự bực tức của mình, bị cáo vẫn thực hiện hành vi. Hành vi phạm tội của bị cáo cần cân nhắc xử lý bằng hình phạt nghiêm khắc, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa loại tội phạm này tại địa phương, nên cần có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục.

. Nhân thân: Bị cáo mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trước lần phạm tội này chưa vi phạm pháp luật; nghề nghiệp hiện tại không ổn định (làm thuê), trước khi phạm tội sống chung với cha mẹ ruột; hoàn cảnh kinh tế gia đình hiện tại thuộc diện khó khăn ở địa phương.

. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, tại phiên tòa thể hiện thái độ ăn năn, hối cải; có tác động gia đình nộp 50.000.000 đồng khắc phục hậu quả, được bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; hậu quả thiệt hại gây ra và kết quả khắc phục, Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đủ để giáo dục.

. Đối với hành vi của những người có liên quan trong vụ án (trong đó có Nguyễn Duy L, Trương Văn H). Hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện, cả hai thừa nhận có nhận sự rủ rê của bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A để đi đánh nhau với nhóm của bị hại Nguyễn Văn Đ. Khi đi L có mang theo hung khí, đến hiện trường Linh có cầm trên tay ống tuýt sắt, H có cầm trên tay tu vít (loại sửa xe), mục đích để giúp sức cho bị cáo A đánh nhóm Đ. Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra dấu hiệu phạm tội của một số người, nhưng Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ Điều 298 Bộ luật Hình sự, trong vụ án này Hội đồng xét xử chỉ xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A.

. Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A phạm tội Giết người và điều luật áp dụng. Riêng mức hình phạt, xét bị cáo phạm tội chưa đạt; hậu quả đã thỏa thuận bồi thường (đã nộp tiền tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang); bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt, nên Hội đồng xét xử có điều chỉnh theo hướng thấp hơn mức đề nghị.

. Hội đồng xét xử thống nhất phát biểu của người bào chữa, xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 52; Điều 57 Bộ luật Hình sự.

. Về tang vật chứng

- Một xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 99F2-4374. Xe của bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A. Là phương tiện không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo. Xét bị cáo đã được gia đình do ông Nguyễn Văn Tr đại diện nộp đủ số tiền bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, nên hoàn trả lại cho bị cáo.

- Một con dao tự chế bằng kim loại có tổng độ dài 75cm, chiều ngang 5cm;

- Một chiếc dép nhựa màu đen, kích thước (25x10)cm;

- Một cây vít cán màu vàng, dài 30cm.

Là những vật chứng có liên quan hoặc không liên quan đến việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng Hội đồng xét xử tịch thu giao Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang tổ chức tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại và bị cáo đã thỏa thuận, bị cáo có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho bị hại số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Xét thỏa thuận của hai bên là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền thiệt hại về sức khỏe như thỏa thuận.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 268, 269, 292, 293, 298, 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm l, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 15, 38, 57 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 29/10/2021.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án ngày 28/11/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các tài sản sau:

- Một con dao tự chế bằng kim loại có tổng độ dài 75cm, chiều ngang 5cm;

- Một chiếc dép nhựa màu đen, kích thước (25x10)cm;

- Một cây vít cán màu vàng, dài 30cm.

Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn văn Hoàng A 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, biển số kiểm soát 99F2-4374.

Tất cả vật chứng được xác định theo quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKSHG-P1 ngày 15/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 590 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận tự nguyện thỏa thuận toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe tại phiên tòa của bị hại và bị cáo. Theo đó buộc bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A bồi thường thiệt hại về sức khỏe trị giá bằng số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho bị hại Nguyễn Văn Đ. Bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A được khấu từ số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) do ông Nguyễn Văn Tr đã nộp khắc phục hậu quả thay cho bị cáo theo Biên lại thu tiền số 0000236 ngày 25/11/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hoàng A chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ quan được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ