- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình Ng phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Đình Ng và Lê Phước H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số:57/2022/HS-ST Ngày 29 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Dần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Văn Thành
2. Bà Đinh Thị Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Đức Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở UBND xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Lê Đình Ng (tên gọi khác: không); sinh ngày 30/3/1987 tại Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chổ ở : Khu phố 4, phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình Qu, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1966; vợ: Huỳnh Thị Thu Uy, sinh năm 1987; con: có 02 đứa con; Nhân thân: sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi dưỡng cho ăn học đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà tham gia lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 2009 phạm tội “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù. Năm 2015 phạm tội “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù. Năm 2016 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam giữ”bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 năm tù. Ngày 06/7/2021 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương; tiền án: có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” . Năm 2009 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 năm tù. Năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù. Năm 2016 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Tri xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và một năm về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”; tiền sự: Không. Bắt tạm giam ngày 17/9/2022 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Phước H (tên gọi khác: không); sinh ngày 05/12/1997 tại Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ; nơi ĐKNKTT và chổ ở: Khu phố 4, phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị V, sinh măm 1973; vợ, con: Chưa có ; nhân thân: sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi dưỡng cho ăn học đến lớp 12/12 ở nhà tham gia lao động sản xuất cùng gia đình cho đến ngày phạm tội; tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam ngày 16/9/2022 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Anh Đoàn Anh N, sinh năm 1985.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Tam Đăng, xã Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.(vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Đình Qu, sinh năm 1961
Nơi ĐKHKTT: Khu phố 4, phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà, tỉnh
Quảng Trị (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 05/9/2022, Lê Đình Ng đang ở nhà thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ng sử dụng điện thoại di động gọi rủ Lê Phước H trú cùng khu phố (là em họ con chú của Ng), Hữu đồng ý. Sau đó Ng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ABLADE,màu đỏ - Đen – Trắng, BKS: 74F1 -076.86 (xe của Ng) chở theo H chạy theo đường Quốc lộ 1A hướng đi đến tỉnh Quảng Bình. Khi đến đoạn ngã tư thị xã Ba Đồn, Nguyên tiếp tục rẻ theo đường Quốc lộ 12A đi đến huyện Tuyên Hóa để tìm nhà dân nào sơ hở vào trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ ngày 06/9/2022 khi đi đến đoạn đường trước nhà anh Đoàn Anh N sinh năm 1985, thuộc địa phận thôn Tam Đăng, xã Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.Nguyên thấy xum quanh vắng người, nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để lấy trộm tài sản. Ng dừng xe, nói H ở ngoài rồi một mình đột nhập vào nhà tìm tài sản để lấy trộm. Ng trèo qua hàng rào để vào sân nhà, rồi đột nhập theo lối ô thông gió ở tầng hầm để vào trong nhà. Khi vào nhà, Ng đi theo lối cầu thang lên tầng 2 đi vào phòng ngủ của vợ chồng Đoàn Anh N. Tại đây Ng lục tìm và lấy trộm 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam để trên tủ nhựa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu 0PP0 Reno3, màu xanh đang cắm xạc đặt ở trên nóc kết sắt và 01 điện thoại nhãn hiệu VIVOY 20 màu bạc đang cắm xạc đặt trên đầu giường ngủ. Sau đó Ng đi ra ngoài gian bán hàng phát hiện trên tủ có để một số tiền mệnh giá nhỏ nên đi đến lấy. Tiếp đó, Ng lục tìm được chìa khóa, mở cữa tủ thấy một ví da bên trong có chứa nhiều tờ tiền mệnh giá loại 20.000đồng, Ng đếm được khoảng 5.000.000đ, Nguyên lấy tiền cất vào người còn ví da để lại. Sau khi lấy được tài sản Ng tẩu thoát ra ngoài đi đến chổ H đang đứng đợi. Ng điều khiển xe mô tô chở theo H đi theo đường 12A hướng huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình rồi đi theo đường Hồ Chí Minh, khi đến huyện Bố Trạch cả hai đi vào nhà nghỉ bên đường nghỉ lại. Tại đây Ng lấy một số tiền lẻ ra đếm được khoảng 600.000 đồng rồi đưa cho H 300.000đồng, Ng cất giữ số tiền còn lại và 02 điện thoại lấy trộm được và bán cho một người đàn ông không biết tên ở khu vực chợ Đông Hà, tỉnh Quảng Trị với giá 2.200.000đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐG ngày 16/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xác định: Một điện thoại di động nhãn hiệu 0PP0 Reno3, màu xanh đang cắm xạc đặt ở trên nóc két sắt và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVOY20, màu bạc có tổng trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là 3.800.000đồng.
Ngoài vụ trộm cắp trên Lê Đình Ng và Lê Phước H còn khai nhận đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa đã chuyễn cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xác minh, điều tra theo thẩm quyền. Ngày 12/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Đình Ng và Lê Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng.
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa đã thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô ABLADE, màu Đỏ - Đen – Trắng, BKS: 74F1 - 076.86, số khung RLHJF 4609DY243167, số máy JE46B4081107 cùng 01 giấy đăng ký xe mang tên Lê Đình Ng do Công an tỉnh Quảng Trị cấp.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 8Plus, màu đen, số Imei 356709085543124, bên trong có gắn thẻ sim số 0868.187.468;
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 – TA1174;IMEI1357705108122741, số Imei 2: 357709101928947, bên trong có gắn thẻ sim số: 0946.765.735.
- 01(một) quần Jeans dài màu xanh, trên ngực áo có chử: Fashion;
- 01(một) mủ bảo hiểm màu đen, phía sau có chử NÓN SƠN.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Lê Đình Ng và Lê Phước H đã cùng gia đình tự nguyện thỏa thuận, bồi thường cho bị hại anh Đoàn Anh N số tiền 18.800.000đ. Anh N đã nhận đủ tiền không có yêu cầu gì thêm và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản Cáo trạng số: 56/CT-VKSTH-HS ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Lê Đình Ng về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Lê Phước H về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố Lê Đình Nguyên về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Lê Phước H về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt Lê Đình Ng từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam17/9/2022. Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Lê Phước H từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam16/9/2022. Vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105-TA1174; IMEI1357705108122741, số Imei 2: 357709101928947, bên trong có gắn thẻ sim số: 0946.765.735 đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 8Plus, màu đen, số Imei 356709085543124, bên trong có gắn thẻ sim số 0868.187.468, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô ABLADE, màu Đỏ - Đen – Trắng, BKS: 74F1 - 076.86, số khung RLHJF 4609DY243167, số máy JE46B4081107, đã qua sử dụng kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số 74005044 mang tên Lê Đình Nguyên do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 26/01/2022.
* Tịch thu tiêu hủy: - 01(một) quần Jeans dài màu xanh - trắng trên lưng phía sau và trên túi quần phía sau bên phải có chữ GUCCI, đã qua sử dụng; 01(một) mủ bảo hiểm màu đen, phía sau có chử NÓN SƠN, đã qua sử dụng; 01(một) áo khoác dài tay, màu xanh, trên ngực có chữ Fashion, đã qua sử dụng.
Về dân sự: Các bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại đề nghị không xem xét.
Về Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 Ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo Lê Đình Ng và Lê Phước H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý và bảo vệ tài sản của bị hại bị cáo Lê Đình Ng và Lê Phước H đã lén lút lấy trộm của anh Đoàn Anh N tổng số tài sản có giá trị là 18.800.000đ (Mười tám triệu tám trăm nghìn đồng). Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án củng như kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ về thời gian, địa điểm, loại tài sản, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lê Đình Ng phạm vào tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Lê Phước H phạm vào tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm. Vì vậy cần căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự để có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
Xét vai trò, vị trí, tính chất đồng phạm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Đối với bị cáo Lê Đình Ng là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Lê Phước H tham gia trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài cá nhân đồng thời Lê Đình Ng cũng là người trực tiếp vào lấy trộm tài sản nên bị cáo Ng phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Bị cáo Lê Phước H tham gia với vai trò đồng phạm là người giúp sức tích cực khi được Ng khởi xướng và cùng hưởng lợi nên bị cáo cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình để răn đe và giáo dục chung. Nhưng cũng cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn không có sự phân công cụ thể rỏ ràng trong quá trình thực hiện tội phạm.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Đình Ng phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015 vì đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Lê Phước H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sữa đổi, bổ sung năm 2017 vì các bị cáo quá trình điều tra đã bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bị hại và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Lê Phước H áp dụng thêm một tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử thấy việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ hợp lý.
Ngoài vụ trộm cắp trên Lê Đình Ng và Lê Phước H còn khai nhận đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Cơ quan điều tra Công an huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng bình đã chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bố Trạch để xác minh điều tra theo thẩm quyền. Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã thu giữ các loại tài sản của các bị cáo liên quan đến việc trộm cắp tài sản để xử lý theo quy định của pháp luật. Riêng chiếc xe mô tô mà Lê Đình Ng dùng làm phương tiện phạm tội, giấy tờ đăng ký xe mô tô đứng tên Lê Đình Ng, ông Lê Đình Q là bố của của Lê Đình Ng quá trình điều tra có trình bày chiếc xe mô tô này là của gia đình nhưng không có giấy tờ gì để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét nên không chấp nhận. Vật chứng này là vật dùng vào việc phạm tội do đó cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 - TA1174; IMEI1357705108122741, số Imei 2: 357709101928947, bên trong có gắn thẻ sim số: 0946.765.735 đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 8Plus, màu đen, số Imei 356709085543124, bên trong có gắn thẻ sim số 0868.187.468, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô ABLADE, màu Đỏ - Đen – Trắng, BKS: 74F1 - 076.86, số khung RLHJF 4609DY243167, số máy JE46B4081107, đã qua sử dụng kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số 74005044 mang tên Lê Đình Ng do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 26/01/2022.
Số vật chứng dùng vào việc phạm tội còn lại do không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01(một) quần Jeans dài màu xanh – trắng trên lưng phí sau và trên túi quần phía sau bên phải có chữ GUCCI, đã qua sử dụng.
- 01(một) mủ bảo hiểm màu đen, phí sau có chử NÓN SƠN, đã qua sử dụng; 01(một) áo khoác dài tay, màu xanh, trên ngực có chữ Fashion, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đoàn Anh N đã nhận lại đầy đủ tài sản. Quá trình điều tra không yêu cầu gì thêm. Tại phiên tòa vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Đình Ng và Lê Phước H mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lê Đình Ng và Lê Phước H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Đình Ng 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tình từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/9/2022).
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173 các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Lê Phước H 07 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 16/9/2022).
Tiếp tục tạm giam Lê Đình Ng và Lê Phước H mổi bị cáo 45 ngày để bảo đảm việc thi hành án theo quyết định của Hội đồng xét xử.
3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
*Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 -TA1174; IMEI1357705108122741, số Imei 2: 357709101928947, bên trong có gắn thẻ sim số: 0946.765.735 đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại Iphone 8Plus, màu đen, số Imei 356709085543124, bên trong có gắn thẻ sim số 0868.187.468, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô ABLADE, màu Đỏ - Đen – Trắng, BKS: 74F1 - 076.86, số khung RLHJF 4609DY243167, số máy JE46B4081107, đã qua sử dụng kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số 74005044 mang tên Lê Đình Ng do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 26/01/2022.
*Tịch thu tiêu hủy:
- 01(một) quần Jeans dài màu xanh – trắng trên lưng phí sau và trên túi quần phía sau bên phải có chữ GUCCI, đã qua sử dụng; 01(một) mủ bảo hiểm màu đen, phí sau có chử NÓN SƠN, đã qua sử dụng; 01(một) áo khoác dài tay, màu xanh, trên ngực có chữ Fashion, đã qua sử dụng.
Các vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình có đặc điểm mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Tuyên Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình ngày 16/11/2022.
4. Về dân sự : Không có miễn xét.
5. Về án phí: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 Ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Đình Ng và Lê Phước H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt các bị cáo, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2022) để yêu cầu Tòa án tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm. Bị hại, người liên quan kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND nơi cư trú.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Tuyên Hoá; - Công an huyện Tuyên Hóa; - TAND tỉnh QB; - Chi cục THADS Tuyên Hóa; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Văn Lợi Mai Xuân Minh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thanh Dần THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thanh Dần |