- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HS-ST Ngày 03-11-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Hải Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hƣơng- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2022/HSST ngày 01-10-2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã H, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Kh và bà Dƣơng Thị C và có vợ là Nguyễn Thị L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013.
- Tiền án, tiền sự: không;
- Nhân Thân:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2015/HSST ngày 20/01/2015của TAND quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Cƣớp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/06/2022 đến ngày 21/6/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị L, sinh năm 1980; Trú tại: thôn L, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994
+ Anh Trần Công S, sinh năm 1987;
+ Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1991
+ Ông Trần Thành H, sinh năm 1958;
Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Văn K nảy sinh ý định đi sang địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng trộm cắp tài sản. Khoảng 06 giờ sáng ngày 16/6/2022 K đi từ nhà đến nhà anh Nguyễn Văn L là bạn quen biết ở cùng thôn rủ anh L đi sang huyện Tứ Kỳ chơi, mua dây điện (không nói cho anh L biết mục đích sang huyện Tứ Kỳ trộm cắp tài sản), anh L đồng ý. Anh L sử dụng xe máy nhãn hiệu Yamaha Gravita màu đỏ BKS 15B4-192… (xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Mạnh T (anh trai L) chở K đi sang huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng theo hƣớng tỉnh lộ 391 từ Quý Cao đi thành phố Hải Dƣơng. Khi đi đến khu vực thôn L, xã V, huyện Tứ Kỳ, K quan sát thấy bên phải đƣờng theo chiều Quý Cao đi TP Hải Dƣơng có cửa hàng vật liệu xây dựng H (do chị Trần Thị L quản lý, bán hàng) mở cửa. K nói với anh L “quay lại cửa hàng kia mua ít đồ”, lúc này anh L đã điều khiển xe đi qua cửa hàng trên. Anh L điều khiển xe quay lại và dừng xe trƣớc cửa hàng, tắt máy, đỗ xe đầu quay hƣớng Quý Cao đuôi xe quay hƣớng Tứ Kỳ. K xuống xe đi vào bên trong cửa hàng, anh L cũng đi vào cùng. Khi vào bên trong cửa hàng K và anh L không thấy có ngƣời trông coi, anh L đi ra bên ngoài ngồi lên xe (vẫn đang tắt máy) đợi K. Do thấy không có ngƣời quản lý cửa hàng và quan sát thấy trong cửa hàng có nhiều cuộn dây điện để cách cửa ra vào khoảng 3-4 mét. K dùng tay lấy 08 cuộn dây điện các loại màu xanh, màu đỏ, màu vàng mang ra để ở võng xe máy anh L đang ngồi rồi quay vào cửa hàng lấy tiếp 02 cuộn dây điện loại to màu vàng ra để ở xe. Tổng số 10 cuộn dây cáp điện K trộm cắp đều là cuộn dây cáp điện loại “Trần Phú” gồm: 03 loại 1x1mm2, 01 cuộn loại 1x1,5mm2, 02 cuộn loại 1x2,5mm2, 02 cuộn loại 1x4m2, 01 cuộn loại 2x4mm2, 01 cuộn loại 2x6mm2, các cuộn đều còn nguyên vẹn mỗi cuộn dài 100m. Khi K mang các cuộn dây cáp điện ra thì anh L hỏi K “mua đƣợc dây điện rồi à”, K trả lời “mua đƣợc rồi đi về thôi”. Sau đó K ngồi lên xe máy, anh L nổ máy xe rời đi. Khi đi đƣợc khoảng 5 đến 10 m thì bị chị Trần Thị L phát hiện tri hô quần chúng nhân dân đuổi theo và bắt đƣợc Nguyễn Văn K, thu giữ 10 cuộn dây cắp điện K trộm cắp và 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Gravita màu sơn đỏ. Anh Nguyễn Văn L do sợ hãi đã bỏ chạy khỏi hiện trƣờng.
Tại kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS ngày 21/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND huyện Tứ Kỳ kết luận: 10 cuộn dây điện đều có nhãn hiệu “CƠ ĐIỆN TRẦN PHÚ-TRAFUCO” có tổng giá trị 12.377.600 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKSTK ngày 29-9-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Nguyễn Văn K từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng không phải giải quyết; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại: chị Trần Thị L đề nghị giải quyết vắng mặt, xác nhận đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì về trách nhiệm dân sự; Về trách nhiệm hình sự đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, khoảng 07 giờ 05 phút ngày 16/6/2022, tại hàng vật liệu xây dựng H ở thôn L, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng (do chị Trần Thị L quản lý). Nguyễn Văn K đã lén lút trộm cắp 10 cuộn dây điện đều có nhãn hiệu Trần Phú. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi trộm cắp tài sản của ngƣời khác là trái pháp luật, nhƣng do bản chất ham chơi, lƣời lao động vẫn cố ý thực hiện, tài sản mà bị cáo trộm cắp có tổng giá trị là 12.377.600 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Nhƣ vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác mà còn gây ảnh hƣởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phƣơng, cần phải đƣợc xử lý theo quy định pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Mặc dù năm 2015, bị cáo đã từng bị kết án về tội “Cƣớp giật tài sản”, tuy đã chấp hành xong bản án và đƣợc đƣơng nhiên xóa án tích nhƣng chứng tỏ bị cáo là ngƣời có nhân thân không tốt; Xét quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị L đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì về dân sự, do vậy HĐXX không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Gravita màu đỏ BKS 15B4-192… mà anh L chở K là xe do anh L mƣợn của anh Nguyễn Mạnh T (anh trai anh L), cả anh Toàn và anh L không biết mục đích K bảo chở đi để trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho anh Toàn là chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn L chở K đi sang huyện Tứ Kỳ nhƣng không biết mục đích K trộm cắp, không biết 10 cuộn dây diện do K phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/6/2022.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự- CA huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; bị hại; - Cơ quan CSĐT, Bộ phận hồ sơ NVCS- Công an huyện Tứ Kỳ; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |