- Tranh chấp gì? án hình sự — "Th phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Đình Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1 TỈNH T2 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HS-ST Ngày 19/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Quảng, Cán bộ phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện T1, tỉnh T2.
Bà Phan Thị Hạnh Mỹ, Giáo viên Trường Trung học cơ sở Nguyễn Công Trứ, huyện T1, tỉnh T2.
- Thư ký phiên tòa: Lê Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất- Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2022/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định xét xử số 54/2022/QĐXXST-HS ngày 28/6/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2022/QĐST-HS ngày 12/7/2022 đối với bị cáo:
Tô Đình Th, sinh ngày 26/10/2004. Nơi sinh: Xã TN, huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn LTN, xã TN, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Đình Tr và bà Nguyễn Thị Th2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: không; bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Anh Vũ Đức Th1 sinh ngày 29/02/2004, trú tại thôn NT, xã HB, huyện K, tỉnh T2 (vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Tô Đình Th:
Ông Đào Quang Ngh, sinh năm 1984, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T2.
Địa chỉ tại: Số x Phố H, Phường L, thành phố T2, tỉnh T2 (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Tô Đình Th: Ông Tô Đình Tr, sinh năm 1968; bà Nguyễn Thị Th2, sinh năm 1975; đều trú tại thôn LTN, xã TN, huyện T1, tỉnh T2 (ông Tr vắng mặt, bà Th2 có mặt).
- Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị H1 sinh năm 1951, trú tại thôn LTB; chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1980, trú tại thôn LTN, đều thuộc xã TN, huyện T1, tỉnh T2 (những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng thuốc lá điện tử (Pod) nhưng không có tiền để mua nên Tô Đình Th nảy sinh ý định đặt mua thuốc lá điện tử (Pod) trên mạng, khi người giao hàng mang Pod đến, Th sẽ tìm cách để chiếm đoạt. Sáng ngày 04/4/2022 Th vào mạng xã hội Facebook đăng nhập vào tài khoản của mình là Tô Đình Th đổi sang tên là Nguyễn Linh để tìm nơi bán Pod ở T2. Thấy tài khoản Facebook “Pod T2” của anh Vũ Đức Th1 sinh ngày 29/02/2004 trú tại thôn NT, xã HB, huyện K, tỉnh T2. Th nhắn tin cho anh Th1 hỏi mua Pod, ngày 05/4/2022, anh Th1 nhắn tin trả lời. Nhận được tin nhắn trả lời của anh Th1, Th hỏi mua 02 chiếc Pod, anh Th1 yêu cầu phải đặt tiền cọc trước chuyển khoản qua Ngân hàng thì mới giao hàng; do không có tiền nên Th hỏi mua 01 chiếc Pod poisendo gren tea và hẹn giao hàng tại địa chỉ đình LT thuộc thôn LTN, xã TN, huyện T1. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, anh Th1 điều khiển xe mô tô màu trắng biển kiểm soát x- y mang theo 01 chiếc Pod, loại không sạc bọc trong một chiếc túi ni long màu trắng đục đi từ nhà đến điểm hẹn. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày anh Th1 đến nơi, nhắn tin bảo Th ra nhận hàng. Th đi bộ từ nhà đến khu vực Đình LT gặp anh Th1 yêu cầu kiểm tra hàng. Anh Th1 đưa túi Pod cho Th, Th xé túi nilong lấy chiếc Pod hút thử một hơi. Nhìn xung quanh, thấy đông người qua lại, Th liền nói với anh Th1 chở về nhà để lấy tiền thanh toán (thực chất đi đến đoạn đường cánh đồng vắng người để Th dễ tẩu thoát). Th cầm chiếc Pod và ngồi sau xe, chỉ đường; anh Th1 điều khiển xe mô tô đi theo chỉ dẫn củaTh. Khi đến cánh đồng thôn LTN, xã TN, huyện T1; Th nói anh Th1 dừng xe, anh Th1 vừa dừng xe lại ngay lập tức Th xuống xe cầm theo chiếc Pod bỏ chạy theo đường bờ ruộng từ thôn LTN đến thôn LTB. Thấy Th cầm Pod của mình bỏ chạy, anh Th1 dựng xe máy trên đường vừa chạy bộ vừa hô “...cướp ..cướp...” đuổi theo Th. Đuổi được một đoạn đường, do không quen địa hình, sợ mất xe máy nên anh Th1 quay lại lấy xe máy, hỏi người dân đến trụ sở Công an xã TN trình báo. Còn Th chạy đến nhà bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1951 (là bà ngoại Th), trú tại thôn LTB, xã TN, huyện T1 để trốn. Khoảng 15 giờ cùng ngày quay lại đường cánh đồng nhặt lại đôi dép sau đó về nhà.
Bản kết luận định giá tài sản số 11 ngày 06/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T1 kết luận: Giá 01 chiếc Pod màu trắng có dòng chữ Poisedon, Green Tea mua mới ngày 01/4/2022 loại không sạc, dùng một lần có giá trên thị trường thời điểm ngày 05/4/2022 là 600.000đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Tô Đình Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Lời khai của người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị Nh trình bày: Khoảng 13h30’ chiều ngày 05/4/2022, tôi đang ở nhà tại thôn LTN, xã TN, huyện T1 thì nghe thấy tiếng hô hét “Cướp, cướp” rất to. Chị mở cửa chính ra thì thấy một nam thanh niên khoảng 20 tuổi mặc áo khoác màu đen điều khiển xe máy dạng Wave màu trắng ở trước cửa nhà chị hô hoán “Cô ơi, thằng kia nó cướp đồ của cháu” và chỉ tay ra phía đường cánh đồng thôn LTN, xã TN gần nhà chị. Chị đi ra đường nhìn theo hướng tay thanh niên chỉ thì thấy có 01 nam thanh niên khác đang chạy theo đường cánh đồng từ thôn LTN đến thôn LTB, người thanh niên này mặc quần đùi màu xám trắng, áo cộc tay màu trắng, ngoài ra chị không nhìn thấy đặc điểm gì khác vì khoảng cách xa khoảng 100m. Người thanh niên nói với chị “Cô ơi, cô gọi công an xã cho cháu”, chị nói chị không có số của công an, nam thanh niên nói tiếp, cô trông xe máy giúp cháu rồi người thanh niên mặc áo khoác đen đuổi theo nam thanh niên kia, sau không đuổi được thì người thanh niên quay lại. Chị hỏi thanh niên mặc áo khoác đen: đồ để ở đâu mà nó lại cướp, nam thanh niên nói: Cháu ship hàng cho nó, nó bảo chở nó về nhà lấy tiền, đến đây thì nó nhảy xuống bỏ chạy, chị hỏi tiếp: đồ có nhiều tiền không, thanh niên trả lời: gần một triệu cô ạ rồi nhờ chị dẫn ra công an xã trình báo sự việc. Do bận đi làm ở công ty nên chị chỉ đường cho nam thanh niên này đi trình báo.
Tại Cáo trạng số 62/CT-VKSTH ngày 15/6/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Tô Đình Th về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm giữ nguyên quan điểm như đã truy tố về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô Đình Th phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, ấn đinh thời gian thử thách đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra, vị đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Tô Đình Th đã thành khẩn khai nhận, cụ thể: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05/4/2022 tại khu vực Đình LT thuộc thôn LTN, xã TN, huyện T1, Tô Đình Th đã có hành vi Cướp giật tài sản là 01 chiếc Pod poisendo gren tea (thuốc lá điện tử) của anh Vũ Đức Th1, sinh ngày 29/02/2004, trú tại thôn NT, xã HB, huyện K, tỉnh T2 bỏ chạy theo lối đường cánh đồng. Chiếc Pod poisendo gren tea trị giá 600.000đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo Tô Đình Th phù hợp và được chứng minh bằng: Đơn trình báo và lời khai của người bị hại; Sơ đồ hiện trường và biên bản xác định hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện T1 lập ngày 06/4/2022 tại đường liên thôn thuộc địa phận thôn LTN, xã TN, huyện T1; Bản Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 06/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Uỷ ban nhân dân huyện T1; Lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05/4/2022, Tô Đình Th đã có hành vi cướp giật 01 chiếc Pod poisendo gren tea (thuốc lá điện tử) của anh Vũ Đức Th1 trị giá 600.000đồng.
Hành vi của bị cáo Tô Đình Th đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố bị cáo Tô Đình Th về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản 1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo Tô Đình Th là lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để giáo dục riêng với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Tô Đình Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả; bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểmb, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bản thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người chưa thành niên (khi phạm tội mới 17 tuổi 05 tháng 10 ngày), tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 nên cần áp dụng Điều 65; Điều 101 Bộ luật Hình sự không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần xử phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Th lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Trong vụ án này có bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1951, trú tại thôn LTB, xã TN, huyện T1, tỉnh T2 (bà ngoại Tô Đình Th). Sau khi Tô Đình Th cướp giật được tài sản bỏ chạy sau đó về nhà bà H. Bà H không biết Th cướp giật tài sản, Th cũng không nói cho bà H biết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà H là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị cáo và Tô Đình Th đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường trách nhiệm dân sự tổng số tiền 850.000 đồng với người bị hại. Sau khi thỏa thuận xong, người bị hại là anh Vũ Đức Th1 không có yêu cầu đề nghị gì khác, nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã lập biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu gồm: 01chiếc Pod màu xanh, trắng, đen, trên thân chiếc Pod có dòng chữ Poisedon, Green Tea, xác định không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 đôi dép xốp màu đen, họa tiết màu cam trên quai dép có chữ Nike đã qua sử dụng thu giữ của Tô Đình Th, xác định không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Điều 101 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Đình Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Đình Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã TN, huyện T1, tỉnh T2 giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, trường hợp thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của bộ luật hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Không đặt ra giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01chiếc Pod màu xanh, trắng, đen, trên thân chiếc Pod có dòng chữ Poisedon, Green Tea; tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép xốp màu đen, họa tiết màu cam trên quai dép có chữ Nike đã qua sử dụng.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/6/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T1).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Tô Đình Th phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 19/7/2022; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh T2; - Sở Tư pháp tỉnh T2; - VKSND huyện T1; - Công an huyện T1; - Chi cục THADS huyện T1; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Ngọc Huyền |