- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Mai Văn L tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H ình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 173 Bộ luật H ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57 /2022/HS -ST Ngày: 28-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HO
À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: bà Trịnh Thanh H ương.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị H ương và bà Nguy ễn Thị Li ên.
- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Th ư - Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: bà Trần Thị Th êm - Kiểm sát vi ên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự s ơ th ẩm thụ lý số 49/2022/TLST-HS ngày 10tháng 6 năm 2022, theo quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 6 4/2022/QĐXXST - HS ngày 16/6/2022 đối với bị cáo:
Mai Văn Long; sinh ngày 20/3/2000; tại xã N, huyện N, tỉnh T ; trú tại: thôn L, xã N, huyện N, tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do ; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Mai Văn L và bà Mai Thị K ; bị cáo ch ưa có v ợ con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ng
ày 28/3/2022 đến ng ày 06/4/2022 chuyển tạm giam tại nh à tạm giữ Công an huyện H à Trung cho đến nay .
Bị cáo có mặt tại phi ên tòa.
Bị hại: Chị Trần Thị N , sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn
P, xã Y, huyện H, tỉnh T , vắng mặt.
Ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn Th; sinh năm: 1965; nơi cư trú: Khu phố 2, ph ư ờng N, thị x ã B, tỉnh T , vắng mặt .
Ngư ời làm chứng : Anh Lê Văn L; sinh năm: 1968; nơi cư trú: Thôn T, thị trấn H, huyện H, tỉnh T , vắng mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ
án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Khoảng 08 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2022, Mai Văn L điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ , đen, biểnkiểmsoát 36B6-838.47 đến cửa hàng cầm đồ của chị Trần Thị N, sinh năm 1985; trú tại thôn P, xã Y, huyện H , tỉnh T để cầm cố chiếc xe trên lấy 25.000.000đ ( hai mươi lăm triệu đồng). Chị N và L thỏa huận “buổi chiều cùng ngày L sẽ quay lại trả tiền cho chị N và lấy xe ra”. Do chị N không có tiền mặt để đưa cho L nên đã gọi điện cho anh Lê Văn L, sinh năm 1968 trú tại thị trấn HàTrung (là bạn của chị N) nhờ anh L chuyển khoản số tiền 25.000.000 đồng vào số tài khoản 9333347757 tại ngân hàng Vietcombank chủ tài khoản là Mai Văn L.
Sau khi nhận đư ợc tiền, L đã sử dụng hết số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) nạp vào sàn chứng khoán trên mạng và đã thua hết toàn bộ số tiền trên. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, L đến cửa hàng cầm đồ Đức Thắng nhà ông Bùi Văn T, sinh năm 1965 ở số 28 đ ư ờng N, phư ờng N, thị xã B cầm cố chiếc điện thoại Iphone 13 Promax lấy số tiền 22.000.000 đồng , L đã sử dụng số tiền này nạp vào sàn chứng khoán trên mạng nhưng cũng thua hết. Sau khi đã dùng hết số tiền cầm cố điện thoại , L hỏi ông T “có cầm cố xe máy không”, ông T trả lời “nếu xe có đầy đủ giấy tờ thì sẽ cho cầm cố ”. Lúc này, L nảy sinh ý định quay lại nhà chị N lấy chiếc xe máy đang cầm cố để mang đi cầm cố nơi khác để lấy tiền chơi chứng khoán. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, L đến gặp chị N nói dối là L không có điện hoại để chuyển khoản tiề n chuộc xe, bị cáo hỏi mư ợn điện thoại của chị N và mư ợn chìa khóa xe môtô để tìm que chọc thẻ sim đang để trong cốp xe vàl ắp thẻ sim của bị cáo vào điện thoại của chị N để chuyển tiền qua t ài khoản cho chị N. Nghe L nói vậy, chị N tư ởng thật nên đã đưa điện thoại và chìa khóa xe môtô biển kiểm soát 36B6-838.47 cho L mở cốp xe, L tìm que chọc thẻ sim điện thoại nhưng không thấy nên hỏi mư ợn que chọc thẻ sim của chị N. Quan sát thấy chị N lên tầng 2 t ìm que chọc thẻ sim, lợ i dụng sơ hở khi chị N khuất tầm nhìn, L đã nhanh chóng cầm theo chứng minh nhân dân, đăng ký xe nổ máy phóng đi.Do vộin ên Long đãlàmrơich ìakhóaxemôtôvàgiấytờmuabánxe ở tầng
hầm nhà chị N. Nghe tiếng nổ của xe máy, chị N chạy đuổi theo hô hoán mọi ngư ời bắt L nhưng không kịp. Sau khi trộm cắp đư ợc chiếc xe L đã điều khiển xe đến tiệm cầm đồ Đức Thắng cầm cố cho ông Bùi Văn T chiếc xe này và lấy số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng). L tiếp tục dùng số tiền này nạp vào sàn chứng khoán trên mạng và đã thua hết số tiền trên. Đến ngày 28/3/2022 L đã đến trụ sở Công an xã Y, huyện H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ gồm : 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade m àu đỏ biển
kiểm soát 36B6 -838.47 đã qua qua sử dụng ; 01 chìa khóa; 01 Đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 36B6 -838.47; 01 bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe môtô biển kiểm soát 36B6
-838.47; 01 giấy mua bán xe máy biển kiểm soát 36B6 -838.47 của cửa h àng mua bán xe máy Như Liên đ ề ng ày 18/3/2022.
Tại Bản kết luận định giá t
ài sản số 1 4/KLĐG ngày 04/4/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H à Trung kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ biển kiểm soát 36B6-838.47 đã qua qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị l à 28.320.000đ(hai mươi tám tri ệu ba trăm hai m ươi ngh ìn đồng) .
Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đ ã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp t
ài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật H ình sự năm 2015.
Tại phi ên tòa, bị cáo thừa nhận h ành vi như cáo tr ạng đ ã truy tố. Đại diện
Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 173;
Điều 38; điểm b, i , s, khoản 1, khoản 2, Điều 51
Bộ luật H ình sự, xử phạt bị cáo từ
08 tháng tù đến 12 tháng tù. Về bồi th ư ờng dân sự: Tài sản đ ã đư ợc trả lại cho bị hại, n
gư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan. Bị hại v à ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan không có yêu cầu g ì thêm nên miễn xét; buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về h
ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng v à cơ quan ti ến h ành tố tụng. Các hành vi tố tụn g, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ quan ti ến h ành tố tụng đ ã thực hiện đúng với tr
ình tự, thủ tục, thẩm quyền v
à hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phi
ên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở
giai đoạn điều tra, ph ù hợp với lời khai của bị hại, ph
ù hợp với vật chứng thu giữ đ
ư ợc, đủ c ơ s ở khẳng định:
Vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 3 năm 2022, tại thôn P, xã Y, huyện H, tỉnh T, Mai Văn L đã lợi dụng sơ hở, lén lút trộm cắp một chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 36B6 -838.47 trị giá 28.320.000đ (hai mươi tám tri ệu ba trăm hai m ươi ngh ìn đồng) đang do chị Trần Thị N quản lý hợp pháp .Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H
à Trung truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp t
ài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật H
ình sự năm 2015 l à đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu t
ài sản của ng ư ời khác, l àm mất trật tự trị an tr
ên địa b àn huyện. Vì vậy , phải cách ly bị cáo khỏi đời sống x
ã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo
đồng thời để răn đe ph òng ngừa chung .
Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội
lần đầu v à thuộc tr ư ờng hợp ít nghi êm trọng; tự nguyện bồi th
ư ờng thiệt hại, đây l à những t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự theo điểm b, i, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật H ình sự 2015; bị cáo đầu thú, bị hại có đ ơn đ ề nghị giảm nhẹ h
ình phạt cho bị cáo, đây đư ợc coi l à những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật H ình sự 2015 cần áp dụng các t ình tiết n ày để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo .
[3]. Về bồi th ư ờng thiệt hại:
Mai Văn L đã tác động đ ến gia đình khắc phục hậu quả cho L , gia đình L đã trả cho chị Trần Thị N
số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng); trả cho ông B ùi Văn T số tiền 23.000.000đ ( hai mươi ba tri ệu đồng) . Tuy vắng mặt tại phi ên tòa nhưng trong đơn đ ề nghị xét xử vắng mặt, c
hị N và ông T không có yêu cầu bồi th ư ờng g ì thêm, nên miễn xét.
[4]. Về vật chứng:
01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade m àu đỏ , đen biển kiểm soát 36B6 -838.47 đã qua qua sử dụng ; 01 chìa khóa; 01 Đăng ký xe môtô biển kiểm soát 36B6 -838.47; 01 bảo hiểm trách nhiệm dân sự; 01 giấy mua bán xe máy của cửa h àng mua bán xe máy Như Liên đ ề ng ày 18/3/2022 là tài sản đang do chị Trần Thị N quản lý hợp pháp nên cơ quan C ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung đã trả lại chiếc xe c ùng các giấy tờ tr ên cho chị N là đúng quy định.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, Điều 173; Điều 38; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51
Bộ luật H ình sự.
1. Về tội danh: Bị cáo
Mai Văn L phạm tội “Trộm cắp t
ài sản” .
2. Về h ình phạt: Xử phạt bị cáo
Mai Văn L 08(tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l
à ngày 28/3/2022.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng H
ình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng
ày 30/12/2016 của Ủy ban thư ờng vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Mai Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s ơ th ẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ng ày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng
ày kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc bản án đ
ư ợc tống đạt hợp
lệ. Ng ư ời có quyền lợi nghĩa vụ li ên quan có quyền kháng cáo bản án phần li ên quan đến quyền v à nghĩa vụ của m ình trong hạn 15 ng ày kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc bản án đ
ư ợc tống đạt hợp lệ.
Trư ờng hợp bản án đ
ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a v à 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời h iệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h
ành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H à Trung; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện H à Trung; - Bị cáo; - Bị hại; - Ngư ời có QLNVLQ; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà Trịnh Thanh H ương |