vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tăng Văn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Tăng Văn H 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Tăng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã GT, huyện G, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình Tăng Văn H có trách nhiệm phối h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Văn H và đp gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng Văn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 57/2022/HS-ST
Ngày: 21/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và Lê Thị Thanh Hương.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trác Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2022/TLST- HS ngày 11 tháng 5 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 và các Quyết định hoãn phiên tòa, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên Tăng Văn H, sinh năm: 1987, tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn PT, xã GT, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn) 12/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo Không; Quốc tịch Việt Nam; con ông Tăng Văn L (tên gọi khác Tăng Hải L), ông L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng Hạng Ba; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ; Sư đoàn 327 tặng Bằng khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại biên giới chống quân Trung Quốc xâm lược; con bà Nguyễn Thị H. Bị cáo có vợ là Hồ Thị Khánh H, bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 01/8/2011, Công an TP H ra Quyết đinh xử phạt vi phạm hành chính số 248/QĐ-XPHC đối với Tăng Văn H về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 04/8/2011. Đã được xóa tiền sự.

- Bản án số 85/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt H 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Đã được xóa án tích.

- Ngày 17/9/2018, Công an huyện Gia Lộc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 165/QĐ-XPHC về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác, chấp hành xong ngày 02/10/2018. Đã được xóa tiền sự.

- Ngày 17/6/2019, Công an huyện Gia Lộc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 82/QĐ-XPHC về hành vi Tàng trữ, cất giấu trong người công cụ, phương tiện thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác, chấp hành xong ngày 25/9/2019. Đã được xóa tiền sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên Vũ Thanh T (tên gọi khác Vũ Văn T), sinh năm: 1986, tại Hải Dương. Nơi cư trú: Khu 3, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn) 10/12; Dân tộc Kinh; Giới tính Nam; Tôn giáo Không; Quốc tịch Việt Nam; con ông Vũ Xuân T và bà Nguyễn Thị C. Bị cáo có vợ Nguyễn Thị D, có 01 con sinh năm 2011.

Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: - Bản án số 135/2006/HSST ngày 02/8/2006 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương xử phạt T 06 năm 03 tháng tù về tội Cướp tài sản. Ngày 17/01/2009 T được đặc xá. Đã được xóa án tích.

- Bản án số 127/2013/HSST ngày 23/8/2013 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương xử phạt T 18 tháng tù về tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và 21 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Tổng hợp hình phạt buộc T phải chấp hành hình phạt chung là 39 tháng tù và phải bồi thường số tiền 9.000.000đ. Ngày 26/10/2015 T chấp hành xong hình phạt tù, T chưa bồi thường phần trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, người bị hại tự nguyện không yêu cầu bồi thường, do đó T được đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên Nguyễn Viết Th (tên gọi khác Nguyễn Việt Th), sinh ngày 15/10/1999, tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn) 09/12; Dân tộc Kinh; Giới tính Nam; Tôn giáo Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Vũ Thị H (đã chết). Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 22/9/2018, Nguyễn Viết Th phạm tội Cướp tài sản (Giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.000.000 đồng). Bản án số 05/2019/HSST ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt Th 39 tháng tù về tội Cướp tài sản. Th chấp hành xong án phạt tù ngày 14/9/2021. Chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 22/02/2017, Nguyễn Viết Th (đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999. Bản án số 43/2017/HSST ngày 22/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt Th 18 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Th chấp hành xong bản án ngày 22/7/2018. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Mạnh A, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1970. Đều trú tại địa chỉ: Thôn L, xã GT, huyện G, tỉnh Hải Dương (Có đơn xin vắng mặt).

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1981; anh Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1986; bà Nguyễn Thị E, sinh năm 1963; bà Nguyễn Thị F, sinh năm 1957 (Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tăng Văn H, Vũ Thanh T và Nguyễn Viết Th là bạn xã H. T và Th A xuyên đến kiốt thuê của H tại thôn NP, xã GX, thành phố H, tỉnh Hải Dương chơi. H cho Th 01 chiếc sim điện thoại số xxxx.xxx.xxx và nói nếu có việc gì, H gọi điện nhờ Th làm giúp, Th đồng ý. H cho anh Nguyễn Trương V ở thôn L, xã GT, huyện G vay nợ tiền, đã đòi nhiều lần nhưng anh V không trả, liên lạc điện thoại thì không được nên H đến gặp bố mẹ anh V (ông A, bà B) yêu cầu trả nợ thay cho anh V nhưng cũng không được. H nảy sinh ý định ném chất bẩn vào nhà ông A để gây sức ép buộc gia đình anh V phải trả nợ cho H.

Khoảng tháng 10/2021, H nói với T, Th: tại vườn nhà H có sẵn dầu nhớt thải và bảo T đi mua thuốc trừ sâu về pha thành dung dịch chất bẩn, tạo mùi độc hại, T và Th đồng ý. Vài ngày sau, T đến cửa hàng kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật số 129 đường BĐ, khu 5, phường TP, thành phố H, tỉnh Hải Dương mua 02 lọ thuốc trừ sâu nhãn hiệu Selecron 500EC mang về kiốt của H, chờ khi H bảo pha và đi ném. Khoảng 14 giờ ngày 21/10/2021 tại ki ốt, H bảo T tối đi ném chất bẩn vào nhà ông A; đồng thời sử dụng điện thoại Iphone XR, lắp sim số xxxx.xxx.xxx gọi đến số điện thoại xxxx.xxx.xxx cho Th bảo tối đi ném chất bẩn cùng với T. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Th đi xe mô tô đến kiốt rồi để lại xe. T cầm túi nilon màu trắng bên trong có 01 chai thuốc trừ sâu nhãn hiệu Selecron 500EC chở Th bằng xe mô tô SIRIUS BKS: 34B2-872.51 của H đến vườn nhà H ở thôn PT, xã GT, huyện G. Tại vườn nhà H, T lấy can dầu nhớt thải đổ ra thau nhôm cũ, rồi đổ thuốc trừ sâu vào thau hòa với dầu nhớt thải. Sau đó, Th cầm giữ miệng túi nilon màu trắng để T đổ dầu nhớt vừa trộn vào đầy túi và buộc túi chất bẩn bằng 01 đoạn dây dứa màu đỏ. Sau đó đặt túi chất bẩn vào trong 01 túi nilon màu đen nhặt được trong vườn. T và Th mang túi nilon chất bẩn về kiốt của H để chờ đến tối muộn sẽ đi ném vào nhà ông A. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Th đi xe mô tô đến ki ốt gặp T. Để tránh bị phát hiện, T và Th mỗi người mặc một chiếc áo chống nắng kẻ ca rô có sẵn ở kiốt; T đội mũ bảo hiểm nửa đầu màu trắng, phần gáy mũ màu đen; Th đội mũ bảo hiểm loại lưỡi trai màu đen của T. Sau đó, Th điều khiển xe SIRIUS BKS 34B2-872.51 của H chở T ngồi sau; túi nilon chất bẩn treo ở phần yếm xe. Khi tới đầu ngõ nhà ông A, Th dừng xe đứng chờ và cảnh giới; T xuống xe, xách túi chất bẩn đi bộ đến cổng nhà ông A và ném túi chất bẩn qua khe phía dưới cánh cổng vào sân nhà ông A. Ném xong, T và Th về kiốt cởi bỏ áo chống nắng, mũ bảo hiểm để tại ki ốt rồi ai về nhà nấy.

Chiều ngày 04/11/2021, tại kiốt, H bảo T đi ném chất bẩn vào nhà ông A và cầm thêm chiếc khóa dây để khóa cổng nhà ông A, T đồng ý. H gọi điện bảo Th đến ki ốt để cùng đi ném chất bẩn với T. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, Th đi xe mô tô đến rồi để lại xe ở ki ôt; Th và T đi xe SIRIUS BKS 34B2-872.51 đến vườn nhà H pha được 01 túi nilon chất bẩn gồm nhớt thải và thuốc trừ sâu rồi mang về ki ốt cất. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, tại ki ốt T và Th tiếp tục mặc áo chống nắng, đội mũ bảo hiểm, đồng thời T cầm theo 01 chiếc khóa dây có sẵn ở ki ốt. Th điều khiển xe SIRIUS BKS: 34B2-872.51 chở T, túi nilon chất bẩn treo ở phần yếm xe. Đến khoảng 00 giờ ngày 05/11/2021, tới đầu ngõ nhà ông A, Th dừng xe chờ và cảnh giới; T cầm khóa dây và túi nilon chất bẩn đi bộ đến cổng nhà ông A; luồn khóa dây qua 02 cánh cổng khóa cổng lại rồi ném túi nilon chứa chất bẩn qua khe phía dưới cánh cổng vào sân nhà ông A. Ném xong T và Th về ki ốt cởi bỏ áo chống nắng, mũ bảo hiểm để tại ki ốt rồi ai về nhà nấy. Trên đường về, T ném chìa khóa khóa dây đi.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/11/2021, T đến cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật số 129 đường BĐ mua thêm 01 lọ thuốc trừ sâu nhãn hiệu Selecron 500EC đem về kiốt cất chờ khi nào H bảo đi ném chất bẩn. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H gửi ảnh anh V và nhắn tin bằng ứng dụng Messenger cho T, nội dung: “nguyễn văn V sinh nam 1989 chết ngày 31/11/2021 vì ko có tiền trả nợ, đẻ ra cái loại súc vật này thì đẻ ra cục thịt còn hơn”. H bảo T hôm nào đi ném chất bẩn nhà V thì in 200.000đ tờ rơi có nội dung như trên để rải xung quanh khu vực nhà V mục đích để nhiều người dân xung quanh biết việc V vay nợ, không có tiền trả để tiếp tục gây sức ép, buộc gia đình V trả nợ. Vài ngày sau, T đến quán phô tô của anh Nguyễn Mạnh D ở đường Điện Biên Phủ, thành phố H đặt in tờ rơi có ảnh của anh V và nội dung như H nhắn tin, rồi đem về kiốt của H cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 30 ngày 03/12/2021, H gọi điện thống nhất với T và Th là tối đi ném chất bẩn vào nhà V. T đi xe SIRIUS BKS 34B2-872.51 đến kiốt lấy lọ thuốc trừ sâu và túi nilon có các tờ rơi rồi đến nhà H chơi. H có việc đi thành phố H nên T ở nhà. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Th đi xe mô tô đến nhà H. Tiện có sẵn áo chống nắng và mũ bảo hiểm ở tủ giày nhà H nên T mặc áo chống nắng màu xanh, đội mũ bảo hiểm màu trắng; Th mặc áo chống nắng màu F, đội mũ bảo hiểm loại lưỡi trai màu đen của T. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô SIRIUS BKS: 34B2-872.51 chở T ngồi sau. T cất lọ thuốc trừ sâu vào túi áo chống nắng đang mặc; túi đựng tờ rơi treo ở yếm xe. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đến khu vực gần nhà V, T ngồi sau xe vừa đi vừa rải hết tờ rơi xuống khu vực đường thôn L và xung quanh khu vực nhà ông A. Khi đến đầu ngõ nhà ông A Th đứng chờ và cảnh giới; T đi bộ đến cổng nhà ông A, lấy chai thuốc sâu trong túi áo mở nắp rồi hất dung dịch thuốc sâu vào cổng nhà ông A. Xong việc T và Th về nhà H. Trên đường về, T ném vỏ chai thuốc sâu ở bụi cỏ rìa đường giáp tường trường tiểu học xã GT. T và Th cởi áo chống nắng, mũ bảo hiểm để ở tủ giày nhà H rồi ai về nhà nấy.

Các ngày 22/10/2021, 05/11/2021 và 04/12/2021, ông A đều có đơn trình báo sự việc gửi Công an và UBND xã GT. Ủy ban nhân dân xã và các tổ chức chính trị thôn (dân quân, chính đảng) có đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều tra, xử lý nghiêm đối tượng theo quy định của pháp luật.

Hậu quả gia đình ông A và các gia đình trong thôn L, xã GT nhiều lần bị ảnh hưởng mùi thuốc trừ sâu, bị lưu giữ lâu ngày, có mùi hắc, khuyếch tán rộng, độc hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của mọi người, đến cuộc sống, sinh hoạt, của gia đình ông A và nhân dân xung quanh. Mặc dù anh V chưa chết nhưng các đối tượng đã in và rải tờ rơi nói rằng anh V đã “chết ngày 31/11/2021 do không có tiền trả nợ”, đã gây hoang mang, lo lắng, sợ hãi trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương thôn L và địa bàn xã GT, huyện G.

Kết quả xác minh tại Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương thể hiện: Thuốc trừ sâu SELECRON 500EC là thuốc có độc tính cao, thuộc nhóm 2; thuốc có đặc tính xông hơi, khuyếch tán mạnh trong không khí, mùi hắc, ngửi khó chịu, có khả năng tồn lưu trong không khí một thời gian, thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe con người; thuốc chỉ được sử dụng trong trồng trọt, không sử dụng vào mục đích khác.

Vật chứng của vụ án:

- Ông A giao nộp: 01 chiếc khóa dây bọc nhựa cứng màu trong suốt, bên trong có các sợi dây kim loại nhỏ bện vào nhau, chốt khóa bằng kim loại có dán giấy ghi chữ Trung Quốc, phần dây khóa nối với chốt bị bung; 30 tờ rơi có ảnh của anh V, nội dung: “Nguyễn Văn V, Sinh năm 1989 chết ngày 31/11/2021 vì không có tiền trả nợ. Đẻ ra cái loại súc vật này thì đẻ ra cục thịt còn hơn”.

- Thu được khu vực xung quanh nhà ông A: 09 tờ rơi có ảnh của anh V, nội dung: “Nguyễn Văn V, sinh năm 1989 chết ngày 31/11/2021 vì ko có tiền trả nợ. Đẻ ra cái loại súc vật này thì đẻ ra cục thịt còn hơn”;

- Thu giữ tại vườn và nhà ở của H: 01 can dầu nhớt thải bằng nhựa hình trụ, màu xanh, trên can ghi chữ CALTEX, bên trong can còn một ít chất lỏng màu đen; 01 thau nhôm và 01 chiếc mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, gáy mũ màu đen;

- Thu giữ tại khu vực bụi cây rìa đường, giáp trường tiểu học xã GT, huyện G: 01 vỏ chai thuốc trừ sâu nhãn hiệu SELECRON 500EC;

- 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS: 34B2 - 872.51 và 01 chiếc mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu đen; 01 chiếc điện thoại Iphone XR, bên trong lắp sim số xxxx.xxx.xxx của H;01 chiếc điện thoại Iphone XS Max, bên trong không lắp sim của T;01 chiếc điện thoại Iphone 6, bên trong lắp sim số xxxx.xxx.xxx của Th;

- 03 chiếc USB 4GB, nhãn hiệu Kingston, có lưu trữ 03 file video được trích xuất từ đầu thu Camera an ninh của nhà ông A; 01 chiếc USB 4GB, nhãn hiệu Kingston có lưu trữ 01 file video được trích xuất từ đầu thu Camera an ninh nhà thờ họ gia đình ông Hoàng Mai Việt; đều được niêm phong dán kín.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 09/5/2022,Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Tăng Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Vũ Thanh T và Nguyễn Viết Th (Nguyễn Việt Th) về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị H đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 17, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Tăng Văn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng; Xử phạt: Bị cáo Tăng Văn H từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Tăng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã GT, huyện G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 17, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội Gây rối trật tự công cộng; Xử phạt: Bị cáo Vũ Thanh T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Vũ Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường Cẩm Thượng, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết Th (Nguyễn Việt Th) phạm tội Gây rối trật tự công cộng; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết Th (Nguyễn Việt Th) từ 09 đến 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) can dầu nhớt thải đã qua sử dụng, bằng nhựa hình trụ, màu xanh, trên can có ghi CALTEX, đường kính đáy 27 cm, cao 46 cm, nắp can bằng nhựa màu đỏ, bên trong can còn một ít chất lỏng màu đen; 01 (một) thau nhôm đã qua sử dụng, đường kính 35 cm, cao 10 cm; 01 (một) vỏ chai thuốc trừ sâu bằng nhựa, màu trắng, hình hộp chữ nhật kính thước 10 X 4,5 X 3,5 cm, loại SELECRON 500EC; 01 (một) mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ lưỡi trai, màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ nửa đầu, màu trắng, gáy mũ màu đen; 01 (một) khóa dây bọc nhựa cứng màu trong suốt, bên trong có các sợi dây kim loại nhỏ bện vào nhau, chốt khóa bằng kim loại có dán giấy ghi chữ Trung Quốc, phần dây khóa nối với chốt bị bung.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc Iphone XR, vỏ màu ghi - trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 57354093403905, IMEI của esim: 357354093245603, bên trong lắp sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao xxxxxxxxxx; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone Xs Max, vò màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 353100104777777, IMEI của esim: 353100104915203, bên trong không lắp sim; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 352027075127420, bên trong lắp sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao xxxxxxxxxx.

Trả lại Tăng Văn H chiếc xe mô tô YAMAHA, loại SIRIUS màu đỏ - đen, BKS: 34B2 - 87251, số máy 5C6H119363, số khung C6HOFY119348.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đều thừa nhận vì muốn gây sức ép để gia đình ông A trả khoản nợ do anh V vay của H nên cả 3 lần H đều xúi giục T, Th thực hiện các hành vi ném dung dịch dầu nhớt thải trộn với thuốc trừ sâu nhãn hiệu SELECRON 500EC và ném thuốc trừ sâu nhãn hiệu SELECRON 500EC vào sân và khu vực cổng gia đình ông A; dùng khóa dây khóa cổng gia đình nhà ông A, ném tờ rơi xung quanh khu vực cổng nhà ông A và đường thôn L, xã GT, huyện G. Các bị cáo khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo là đúng; không có ý kiến tranh luận với luận tội của Đại diện viện kiểm sát.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa và xác nhận việc làm của bị cáo làm ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần, danh dự đối với gia đình và thôn xóm. Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã đến gặp gia đình ông bà để hòa giải và tự nguyện bồi hoàn về vật chất cho gia đình ông số tiền 2 triệu đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng trong phiên tòa: các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các vật chứng thu giữ, biên bản xác minh tại Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 21/10/2021, 05/11/2021 và 03/12/2021, Tăng Văn H có hành vi xúi giục Vũ Thanh T và Nguyễn Viết Th thực hiện các hành vi ném chất bẩn là dung dịch dầu nhớt thải trộn với thuốc trừ sâu nhãn hiệu SELECRON 500EC, ném dung dịch thuốc trừ sâu nhãn hiệu SELECRON 500EC vào sân và khu vực cổng gia đình ông A; dùng khóa dây khóa cổng gia đình ông A, ném tờ rơi có nội dung không đúng sự thật anh V là con trai ông A đã chết do không trả được nợ xung quanh khu vực cổng nhà ông A và đường thôn L, xã GT, huyện G. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã H, làm cản trở đến sinh hoạt bình A của gia đình ông A và nhiều hộ dân trong thôn L; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã H tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần, hoang mang lo sợ của gia đình ông A và bà con thôn, xã GT. Chính quyền, các tổ chức đoàn thể thôn L, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các tổ chức chính trị xã H, tổ chức đoàn thể xã GT, huyện G nhiều lần đề nghị xử lý vụ việc theo quy định pháp luật. Xét về hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Do bị cáo H có hành vi xúi giục bị cáo T và Th thực hiện hành vi gây rối; đây là yếu tố định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

.Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong xã H hiện nay, tình trạng ném chất bẩn, rải tờ rơi, khua trống, bật loa đài mục đích để gây sức ép đòi nợ trên địa bàn huyện G diễn ra nhiều và phức tạp; điều đó thể hiện ý thức coi A pháp luật của một số thành phần cá biệt, cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, ngăn chặn và phòng ngừa chung.

.Đánh giá về vai trò: Bị cáo H là người khởi xướng, chuẩn bị dầu nhớt, xúi giục bị cáo T và Th thực hiện hành vi ném chất bẩn nên giữ vai trò chính. Bị cáo T là người mua thuốc trừ sâu và tự pha chế dầu nhớt với thuốc trừ sâu; bị cáo Th chở T đến địa điểm để thực hiện hành vi gây rối và rải tờ rơi sai sự thật, hai bị cáo là người thực hành tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức nên giữ vai trò sau ngang nhau.

.Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo H, T mặc dù đã từng bị kết án nhưng đã chấp hành xong hình phạt, đã được xóa tiền sự và án tích từ nhiều năm nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Riêng bị cáo Th bị kết án theo Bản án số 05/2019/HSST ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; tự nguyện khắc phục hậu quả 2.000.000đ cho gia đình ông A; HĐXX áp dụng cho các bị cáo H, T, Th được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H có bố đẻ (ông Lý) được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương; do vậy bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã H của hành vi phạm tội. Bị cáo H và T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, không ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã H do đó không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cho các bị cáo H, T được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của H đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm đề xuất của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc.

Bị cáo Th cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng có tình tiết tăng nặng tái phạm. Theo tinh thần Nghị quyết của H đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo Th không thỏa mãn các điều kiện cho hưởng án treo; vì vậy HĐXX áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

.Về trách nhiệm dân sự: gia đình ông A không bị thiệt hại về vật chất, không có yêu cầu, HĐXX không phải giải quyết.

.Về xử lý vật chứng:

- 01 can dầu nhớt thải đã qua sử dụng, bằng nhựa hình trụ, màu xanh, trên can có ghi CALTEX, đường kính đáy 27 cm, cao 46 cm, nắp can bằng nhựa màu đỏ, bên trong can còn một ít chất lỏng màu đen; 01 thau nhôm đã qua sử dụng, đường kính 35 cm, cao 10 cm; 01 vỏ chai thuốc trừ sâu bằng nhựa, màu trắng, hình hộp chữ nhật kính thước 10 x 4,5 x 3,5 cm, loại SELECRON 500EC; 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ lưỡi trai, màu đen; 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ nửa đầu, màu trắng, gáy mũ màu đen; 01 khóa dây bọc nhựa cứng màu trong suốt, bên trong có các sợi dây kim loại nhỏ bện vào nhau, chốt khóa bằng kim loại có dán giấy ghi chữ Trung Quốc, phần dây khóa nối với chốt bị bung, xác định là công cụ các bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng, HĐXX tịch thu cho tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với chiếc xe mô tô YAMAHA, loại SIRIUS màu đỏ - đen, BKS: 34B2 - 87251, số máy 5C6H119363, số khung C6HOFY119348 là tài sản của bị cáo H. Bị cáo H không biết bị cáo T và Th sử dụng làm phương tiện để đi thực hiện hành vi phạm tội; HĐXX trả lại cho bị cáo H theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 chiếc Iphone XR, vỏ màu ghi - trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 57354093403905, IMEI của esim: 357354093245603, bên trong lắp sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao xxxxxxxxxx; 01chiếc điện thoại Iphone Xs Max, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 353100104777777, IMEI của esim: 353100104915203, bên trong không lắp sim; 01 chiếc điện thoại Iphone 6, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 352027075127420, bên trong lắp sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao xxxxxxxxxx, là tài sản của các bị cáo H, T, Th. Các bị cáo khai có dùng các điện thoại này để làm phương tiện liên lạc trao đổi việc ném chất bẩn; HĐXX tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 30 tờ rơi do ông A giao nộp và 09 tờ rơi do thu thập xung quanh thôn L, đều có ảnh của anh V, nội dung: “Nguyễn Văn V, Sinh năm 1989 Chết ngày 31/11/2021 vì ko có tiền trả nợ. Đẻ ra cái loại súc vật này thì đẻ ra cục thịt còn hơn”; 03 chiếc USB 4GB, nhãn hiệu Kingston, có lưu trữ 03 file video được trích xuất từ đầu thu Camera an ninh của nhà ông A; 01 chiếc USB 4GB, nhãn hiệu Kingston có lưu trữ 01 file video được trích xuất từ đầu thu Camera an ninh nhà thờ họ gia đình ông Hoàng Mai Việt; đều là chứng cứ chứng minh tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc đã đánh bút lục lưu hồ sơ vụ án là phù hợp với quy định tố tụng về thu thập chứng cứ.

Đối với 02 túi nilon đựng chất bẩn ném vào sân nhà ông A, gia đình ông A đã thu dọn vứt đi, không thu giữ được, HĐXX không phải giải quyết.

Do bị cáo H và T được HĐXX cho cải tạo tại địa phương nên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với hai bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 17; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tăng Văn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Tăng Văn H 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Tăng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã GT, huyện G, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình Tăng Văn H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã GT, huyện G, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 17; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Vũ Thanh T 15 (mười năm) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Vũ Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường Cẩm Thượng, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Vũ Thanh T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Cẩm Thượng, thành phố H, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Tăng Văn H và Vũ Thanh T.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết Th (tên gọi khác Nguyễn Việt Th) phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Th (tên gọi khác Nguyễn Việt Th) 09 (chín) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) can dầu nhớt thải đã qua sử dụng, bằng nhựa hình trụ, màu xanh, trên can có ghi CALTEX, đường kính đáy 27 cm, cao 46 cm, nắp can bằng nhựa màu đỏ, bên trong can còn một ít chất lỏng màu đen; 01 (một) thau nhôm đã qua sử dụng, đường kính 35 cm, cao 10 cm; 01 (một) vỏ chai thuốc trừ sâu bằng nhựa, màu trắng, hình hộp chữ nhật kính thước 10 X 4,5 X 3,5 cm, loại SELECRON 500EC; 01 (một) mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ lưỡi trai, màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, loại mũ nửa đầu, màu trắng, gáy mũ màu đen; 01 (một) khóa dây bọc nhựa cứng màu trong suốt, bên trong có các sợi dây kim loại nhỏ bện vào nhau, chốt khóa bằng kim loại có dán giấy ghi chữ Trung Quốc, phần dây khóa nối với chốt bị bung.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc Iphone XR, vỏ màu ghi - trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 57354093403905, IMEI của esim: 357354093245603, bên trong lắp sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao xxxxxxxxxx; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone Xs Max, vò màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 353100104777777, IMEI của esim: 353100104915203, bên trong không lắp sim; 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 352027075127420, bên trong lắp sim điện thoại mạng Viettel, số thuê bao xxxxxxxxxx.

Trả lại Tăng Văn H chiếc xe mô tô YAMAHA, loại SIRIUS màu đỏ - đen, BKS: 34B2 - 87251, số máy 5C6H119363, số khung C6HOFY119348.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện G ngày 12/5/2022).

Về án phí: căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban A vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Tăng Văn H, Vũ Thanh T, Nguyễn Viết Th (Nguyễn Việt Th), mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc được niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ