vanban.org

Bản án 57/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 20/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/01/2022 bị cáo bị tạm giữ tạm giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ M và Hồ Văn C - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HS-ST
Ngày: 20-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Lin.

Ông Phạm Duy Thương.

- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Hồ M, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1995, tại tỉnh B.

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh B; nghề nghiệp không nghề nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha không xác định được họ, tên cha; mẹ Hồ Thị C, sinh năm 1961; bản thân chưa vợ; tiền sự: không có; tiền án có 02 tiền án:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 148/2016/HSST, ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Hồ M 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2017.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2019/HSST ngày 3/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 06/12/2020.

Bị cáo Hồ M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Hồ Văn C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999, tại tỉnh L.

Nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện T, tỉnh L; nghề nghiệp không nghề nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha Hồ Văn D, sinh năm 1972; họ và tên mẹ Lê Thị H, sinh năm 1979; bản thân chưa vợ; tiền án: không có; tiền sự không.

Bị cáo Hồ Văn C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/01/2022 cho đến ngày 02/6/2022 tại xã H, huyện T, tỉnh L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: ông Nguyễn Hoàng H sinh 2003. Địa chỉ: ấp M1, xã M, huyện Đ, tỉnh L (xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Thu L, sinh năm 1972, địa chỉ: ấp 4, xã B, huyện B, Thành phố H (xin vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Lê Ngọc P (vắng mặt) và ông Phan Minh T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 05/01/2022, bị cáo Hồ M điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Luvias, biển số 59N2-686.XX đi từ xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đến ấp 5, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đi chơi thì gặp bị cáo Hồ Văn C đang đi bộ tại khu vực ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, bị cáo M rủ bị cáo C đi uống cà phê. Sau đó, bị cáo M điều khiển xe chở bị cáo C về hướng xã Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Trên đường đi bị cáo C rủ bị cáo M đi tìm tài sản để cướp giật để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, bị cáo M đồng ý thực hiện. Khi bị cáo M điều khiển xe mô tô chở bị cáo C đến đoạn đường nhựa thuộc ấp Nhơn Hòa 1, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì phát hiện ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 2003, nơi cư trú ấp M1, xã M, huyện Đ, tỉnh L đang điều khiển xe mô tô biển số 62P2-159.XX đi phía trước cùng chiều trên tay H đang cầm điện thoại di động hiệu Sam sung loại Galaxy A03S. Bị cáo M tăng ga áp sát bên trái người ông H, bị cáo C ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy điện thoại di động. Bị cáo M điều khiển tăng ga nhanh chống tẩu thoát. Lúc này, Hận truy hô, cùng người dân truy đuổi theo bắt quả tang bị cáo M và bị cáo C cùng vật chứng vụ án.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL.ĐGTS ngày 12/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, kết luận: điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy A03S, trị giá 2.632.000 đồng, 01 ốp lưng điện thoại hiệu Remax trị giá 40.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.672.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKS.ĐH, ngày 20/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Hồ Minh M và bị cáo Hồ Văn C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn CM gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hồ M từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022 bị cáo bị tạm giữ tạm giam. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hồ Văn C 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm phần trách nhiện dân sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo Hồ M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, sim số điện thoại 0372203407; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Luvias, màu xanh trắng, biển số 59N2-686.25; tịch thu, tiêu hủy 01 con dao gập bằng kim loại màu trắng dài 22cm và 01 ná cao su bằng kim loại dài 11cm.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đánh giá về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi. Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên Tòa, vắng mặt bị hại Nguyễn Hoàng H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thu L cũng như các người làm chứng ông Lê Ngọc P và ông Phan Minh T, được Tòa án triệu tập để tham gia phiên Tòa, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Đồng thời, bị hại, người liên quan và các nhân chứng có đơn xin được xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Xét hành vi của các bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C đã thực hiện:

Tại phiên Tòa bị cáo M và bị cáo C đã thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09 giờ ngày 05/01/2022, tại khu vực thuộc ấp Nhơn Hòa 1, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, bị cáo Hồ M điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Luvias, biển số 59N2-686.XX áp sát bên trái bị hại Nguyễn Hoàng H bị cáo C ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy A03S trị giá 2.632.000 đồng và một ốp lưng điện thoại hiệu Remax trị giá 40.000 đồng của bị hại Nguyễn Hoàng H thì bị bắt quả tang cùng vật chứng vụ án.

Lời khai nhận tội của bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại Nguyễn Hoàng H, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ngày 05/01/2022, các biên bản tạm giữ đồ vật, biên bản định vật chứng và các biên bản định giá tài sản số 06/KL.ĐGTS ngày 12/01/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An của những người liên quan như bà Phạm Thị Thu L và các người làm chứng như ông Lê Ngọc P và ông Phan Minh T và các tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

[4]. Hội đồng xét xử đánh giá: Có căn cứ xác định bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C có hành vi cướp giật tài sản của Nguyễn Hoàng H, tài sản cướp giật có giá trị 2.672.000 đồng.Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hồ M phạm tội "Cướp giật tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Hồ Văn C phạm tội "Cướp giật tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi dùng thủ đoạn như xe mô tô có phân khối lớn rồi áp sát xe cạnh người đang tham gia lưu thông rồi giật chiếm đoạt tài sản của người khác sau đó tăng ga bỏ chạy làm cho người bị giật tài sản bị bất ngờ trong lúc đang tham gia lưu thông trên đường dẫn đến nguy hiểm về tính mạng của người này và những người khác cùng tham gia lưu thông trên đường. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác - quyền này được pháp luật Hình sự bảo vệ nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt thế mà bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của Nguyễn Hoàng Hận mà còn gây nguy hiểm đến sự an toàn khi tham gia giao thông và sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi trái pháp luật của bị cáo M và bị cáo C cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ nhận thức được hành vi của bị cáo là ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án bị cáo M và bị cáo C cùng thực hiện hành vi chung một vụ nhưng xét theo lời khai của các bị cáo M và bị cáo C tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa thì hành vi phạm tội của bị cáo M và bị cáo C không đồng phạm nên quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Hồ M khi thực hiện hành vi phạm tội lần này được xem là tái phạm nguy hiểm được quy định theo điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Chung không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo M, bị cáo C thành khẩn khai báo hành vi phạm tội được quy định theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác các bị cáo không cung cấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Hoàng H đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Trả lại cho bị cáo Hồ M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, sim số điện thoại 03722034XX;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Luvias, màu xanh trắng, biển số 59N2-686.XX;

Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao gập bằng kim loại màu trắng dài 22cm và 01 ná cao su bằng kim loại dài 11cm.

[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc các bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, sung ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Hồ M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/01/2022 bị cáo bị tạm giữ tạm giam.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Hồ Văn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về tạm giam: Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tiếp tục tạm giam bị cáo Hồ M 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20 tháng 6 năm 2022).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Hồ M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, sim số điện thoại 03722034XX;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Luvias, màu xanh trắng, biển số 59N2-686.XX;

Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao gập bằng kim loại màu trắng dài 22cm và 01 ná cao su bằng kim loại dài 11cm.

(Tang vật trên hiện nay do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 70 ngày 23 tháng 5 năm 2022).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hồ M và bị cáo Hồ Văn C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Án này là sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ