- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Bùi Tiến Ph và bà Nguyễn Thị Thúy L.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 57/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2022 V/v: Ly hôn giữa ông Ph và bà L |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thanh Nhàn.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Huế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2022, về "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Bùi Tiến Ph, sinh năm 1983.
Địa chỉ: đường T, phường B, thành phố B, tỉnh L. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1982.
Địa chỉ cư trú cuối cùng: đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2022, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Tiến Ph trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị Thúy L chung sống và đăng ký kết hôn ngày 03/4/2013 tại UBND phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên tranh cãi, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Bà L bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay không có tin tức, ông đã thông báo tìm kiếm bà L trên báo, đài nhưng không có tin tức gì của bà L. Ông đã yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L mất tích, đã được Tòa án tuyên bố bà L mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 12/2021/QĐST-DS ngày 29/9/2021, từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của bà L. Nay tình cảm ông dành cho bà L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Loan.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Thị Cát T, sinh ngày 25/4/2014 hiện cháu đang ở với ông, ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, nợ riêng: Không có.
Bị đơn Nguyễn Thị Thúy L đã biệt tích từ năm 2016, Tòa án đã ra Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 12/2021/QĐST-DS ngày 29/9/2021, từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của bà Loan.
Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án.
Về nội dung vụ án: yêu cầu của ông Ph được ly hôn với bà L là có cơ sở chấp nhận; về con chung: giao 01 con chung tên Bùi Thị Cát T, sinh ngày 25/4/2014 cho ông Ph trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông Ph đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung, nợ riêng đương sự khai không có nên không đề cập đến. Về án phí: Ông Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Ông Bùi Tiến Ph khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy L, nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 45/77 đường 1/5 tổ 6, phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Bùi Tiến Ph vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Thúy L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Tiến Ph và bà Nguyễn Thị Thúy L chung sống và đăng ký kết hôn ngày 03/4/2013 tại UBND phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc, hôn nhân tự nguyện tiến bộ, không ai bị ép buộc. Từ khi kết hôn, vợ chồng chung hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình đôi bên không hợp nhau, bất đồng về tính cách và quan điểm sống, sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng thường xuyên tranh cãi, không có hạnh phúc. Bà L bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay không có tin tức, ông Ph đã thông báo tìm kiếm bà L trên báo, đài nhưng không có tin tức gì của bà L. Ông đã yêu cầu Tòa án tuyên bố bà L mất tích, đã được Tòa án tuyên bố bà L mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích số 12/2021/QĐST-DS ngày 29/9/2021, từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của bà L.
Qua xác minh tại địa phương ông Ph, bà L trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bà L bỏ nhà ra đi từ năm 2016 đến nay, ông Ph bà L có 01 con chung, hiện do ông Ph đang chăm sóc nuôi dưỡng.
Xét thấy tình cảm của ông Ph với bà L không còn, cuộc sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ph là có căn cứ và hợp pháp.
[3]. Về nuôi con chung: Ông Ph và bà L có 01 con chung tên Bùi Thị Cát T, sinh ngày 25/4/2014. Từ năm 2016 khi bà L bỏ đi, ông Ph là người trực tiếp nuôi con, nên giao cháu Bùi Thị Cát T, sinh ngày 25/4/2014 cho ông Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Ông Ph đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
[5]. Về nợ chung, nợ riêng: Đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.
[6]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[7]. Về án phí: Ông Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51, 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Bùi Tiến Ph và bà Nguyễn Thị Thúy L.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Bùi Thị Cát T, sinh ngày 25/4/2014 cho ông Bùi Tiến Ph trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Ông Ph không yêu cầu bà Loan cấp dưỡng nuôi con.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Ông Bùi Tiến Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004901 ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: + TAND tỉnh Lâm Đồng; + VKSND TP. Bảo Lộc; + T.H.A Bảo Lộc; + UBND xã Lộc Châu; + Các đương sự; + Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu)Trần Thị Qui. |