- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Hồng Tuy - Nguyễn Văn Việc"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Hồng T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23/8/2022 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hùng Định và ông Trần Sáu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2022/TLST–HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022, về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng T, sinh năm 1993. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Ph, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1988. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T vào ngày 26/12/2017. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống và đã không sống chung với nhau hai năm đến nay, nay hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin được ly hôn với anh V.
Về con chung: Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 12/7/2018, hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị xin tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có lời trình bày
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được do vắng mặt bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng T và anh Nguyễn Văn V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 26/12/2017 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, đây là hôn nhân hợp pháp. Qúa trình sống chung với nhau vợ chồng có mâu thuẫn, các bên đã không sống chung với nhau từ năm 2020 đến nay. Như vậy, mâu thuẫn của vợ chồng là không thể khắc phục, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị T được ly hôn với bị đơn anh V.
Về con chung: Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 12/7/2018. Thấy rằng, cháu N hiện nay do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Để không làm sáo trộn cuộc sống và đảm bảo cho sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho cháu N, cần giao cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, xét yêu cầu của chị T phù hợp với quy định tại Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Hồng T
Về hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng T được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 12/7/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh V phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8/2022 cho đến khi phát sinh một trong các điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền nghĩa vụ thăm nom chăm sóc giáo dục con chung mà không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung: Không giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền 0005516 ngày 07/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã A; - VKSND huyện Tuy An; - Chi cục THADS huyện Tuy An; - TAND tỉnh Phú Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |