- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận Trần K T và Nguyễn V V là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LAI VUNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 9 -2022 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Thanh Cao
2. Ông Nguyễn Phát Triển.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Vân An – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2022/TLST- HNGĐ, ngày 03/6/2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 350/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 22/8/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần K T, sinh năm: 1972; HKTT: 340 Lô G2 TDC Khóm 2, thị trấn L V, huyện L V, tỉnh Đ T. (có mặt)
2. Bị đơn: Nguyễn V V, sinh năm: 1972; HKTT: 340 Lô G2 TDC Khóm 2, thị trấn L V, huyện L V, tỉnh Đ T. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ c ng như tại phiên toà nguyên đơn Trần K T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trần K T và Nguyễn V V quen biết nhau từ năm 1991 và sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống hôn nhân hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường xuyên cự cãi, Nguyễn V V thường hay uống rượu say sỉn mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Trần K T nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với Nguyễn V V nên làm đơn yêu cầu không công nhận vợ chồng với Nguyễn V V.
- Về con chung: 02 con chung tên Nguyễn T K D, sinh ngày 11/5/1992 và Nguyễn V N, sinh ngày 04/3/1995. 02 con đã trưởng thành Trần K T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản khi ly hôn: Trần K T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ khi ly hôn: Trần K T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Nguyễn V V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải c ng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Trần K T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa Trần K T với Nguyễn V V, đây là vụ án “Ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Nguyễn V V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải c ng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Trần K T và Nguyễn V V sống chung từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, pháp luật không công nhận là vợ chồng, vì đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình có ghi:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”
Tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình có ghi:
“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”
Đối chiếu khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình có ghi:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này....”.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn T K D, sinh ngày 11/5/1992 và Nguyễn V N, sinh ngày 04/3/1995. 02 con đã trưởng thành Trần K T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản khi ly hôn: Trần K T và Nguyễn V V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ khi ly hôn: Trần K T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tiền tạm ứng án phí, án phí: Nguyên đơn Trần K T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn và nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 228; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận Trần K T và Nguyễn V V là vợ chồng.
2.Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm:
Trần K T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân là 300.000 đồng. Được khấu trừ 300.000 đồng vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006157, ngày 02/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Trần K T đã nộp xong).
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 08/9/2022). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Lai Vung; - CC THADS huyện Lai Vung; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Huyền |