vanban.org

Bản án 57/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung cháu Phạm Gia Bảo, sinh ngày 27-8-2019 cho chị Trần Thị Ph tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Phạm Văn Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Ph. Anh Đ được quyền thăm con; không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ph- Phạm Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/HNGĐ-ST
Ngày 15-4-2022
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung giữa
chị Ph và anh Đ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Nguyễn Văn Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Ngày 15 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ph, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Xóm 6, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1994. Nơi cứ trú: Xóm 6, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Chị Ph vắng mặt có lý do; anh Đ vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 29-12-2021, bản tự khai ngày 24-01-2022 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Ph trình bày:

Chị Trần Thị Ph và anh Phạm Văn Đ đăng ký kết hôn ngày 12-01-2018 tại Uỷ ban nhân dân xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh Đ tại xóm 6, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không hợp. Mặc dù được hai bên gia đình phân tích, hòa giải nhưng do không thông cảm, nhường nhịn nhau nên mâu thuẫn giữa anh Đ và chị Ph không những không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng. Từ tháng 6 năm 2020, chị Ph đưa con đi làm ăn xa; vợ chồng ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ đó cho đến nay. Xét tình cảm của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ph đề nghị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Phạm Gia Bảo, sinh ngày 27-8- 2019 hiện đang do chị Ph nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị Ph có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Ph xác định vợ chồng không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10-01-2022, bị đơn anh Phạm Văn Đ có lời khai phù hợp với lời khai của chị Trần Thị Ph về thời gian kết hôn, quá trình chung sống. Tuy nhiên, theo anh Đ, vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn từ tháng 5 năm 2020. Nguyên nhân mâu thuẫn là do va chạm nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, ngay sau khi vợ chồng mâu thuẫn, chị Ph không bàn bạc gì với anh Đ mà tự ý đưa con đi nơi khác lằm ăn sinh sống. Chị Ph, anh Đ sống ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ tháng 6/2020 đến nay. Trong thời gian ly thân, mặc dù anh Đ đã liên lạc nhưng chị Ph không quan tâm, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống với anh Đ, không cho anh Đ thăm nom con chung. Nay chị Ph làm đơn ly hôn, anh Đ không đồng ý ly hôn mà đề nghị chị Ph đưa con chung về đoàn tụ.

Về con chung: Anh Đ xác nhận lời khai của chị Ph về con chung. Trường hợp ly hôn, anh Đ nhận nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Đ xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Ph có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Văn Đ đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Ph, anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Văn Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 12-01-2018. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ph đối với anh Đ thì thấy: Quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không hợp nên giữa chị Ph và anh Đ phát sinh mâu thuẫn. Tháng 6 năm 2020, chị Ph đưa con vào nam sinh sống. Chị Ph, anh Đ ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ đó cho đến nay. Mặc dù anh Đ không nhất trí ly hôn nhưng trong suốt thời gian sống ly thân, bản thân anh Đ cũng không có những biện pháp thiết thực để hóa giải mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, chị Ph đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; anh Đ cũng không tìm gặp chị Ph để vợ chồng hàn gắn.

Trên cơ sở đơn đề nghị của chị Ph về tình trạng hôn nhân có xác nhận của chính quyền địa Ph; căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ph, anh Đ đã trầm trọng, kéo dài, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Ph, cho chị Ph ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Trần Thị Ph và anh Phạm Văn Đ có một con chung cháu Phạm Gia Bảo, sinh ngày 27-8-2019, hiện đang do chị Ph nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị Ph, anh Đ đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị Ph, anh Đ thì thấy: Hiện nay, cháu Phạm Gia Bảo chưa đủ 36 tháng tuổi, là lứa tuổi cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ. Trong suốt thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Bảo do chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Ph có công việc, thu nhập ổn định, đảm bảo được các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bảo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung cho chị Ph tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên, lao động tự lập được hoặc có tài sản tự nuôi mình, anh Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Ph là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Do chị Ph đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ giao con cho chị Ph.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Ph, anh Đ xác nhận không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Ph phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Ph và anh Phạm Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung cháu Phạm Gia Bảo, sinh ngày 27-8-2019 cho chị Trần Thị Ph tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Phạm Văn Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Ph. Anh Đ được quyền thăm con; không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền thăm con nhưng không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con. Hiện con chung đang do chị Ph nuôi dưỡng nên anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ giao con cho chị Ph.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị Ph phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0006050 ngày 10-01-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Trần Thị Ph đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ