vanban.org

Bản án 57/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyen Thi Kieu L"
  • Tòa quyết gì? Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN P
THÀNH PHỐ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2022/DS-ST
Ngày: 06/4/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN P, THÀNH PHỐ M

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Bà Phạm Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào - Thư ký Tòa án nhân dân quận P, Thành phố M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận P: Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận P, Thành phố M xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2021/DSST ngày 08 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 485/2021/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2022 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2022/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S;

Địa chỉ: Lầu 8, số 266-268 đường N, Phường T, Quận B, Thành phố M.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương A, sinh năm 1982 (Văn bản ủy quyền số 293A/2021/GUQ-CNBT của Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh T ký ngày 14/7/2021). (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1989; (Vắng mặt)

Địa chỉ: C4 - lầu 5 C/c Th, đường T, phường H, quận P, Thành phố M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/11/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/12/2016, bà Nguyễn Thị Kiều L có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đ - PGD K, nay là Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Th - PGD K (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà L, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà L với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân, số thẻ 486265-8994. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà L đã thực hiện các giao dịch từ tháng 02/2017 đến ngày 31/5/2017 với tổng số tiền là 17.238.536 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà L phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 4.106.173 đồng trong đó số tiền gốc là 3.317.758 đồng và lãi là 788.415 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 01/10/2017, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 15.718.664 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại (theo Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 06/4/2022, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 43.583.466 đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó:

- Nợ gốc: 15.718.664 đồng;

- Lãi quá hạn: 27.864.802 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà L, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà L trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/4/2022 là 43.583.466 đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó:

- Nợ gốc: 15.718.664 đồng;

- Lãi quá hạn: 27.864.802 đồng.

Đồng thời có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/4/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Yêu cầu thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số nợ.

Tòa án nhân dân quận P đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 09/4/2021, 29/4/2021 và 30/12/2021 để các đương sự giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L vắng mặt không lý do, nên Tòa án tiến hành lập biên bản về việc không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên Tòa xét xử:

* Ngân hàng thương mại cổ phần S (do ông Trương A là đại diện theo ủy quyền) có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời trình bày ý kiến như sau:

- Yêu cầu bà Nguyễn Thị Kiều L trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/4/2022 là 43.583.466 đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó:

- Nợ gốc: 15.718.664 đồng;

- Lãi quá hạn: 27.864.802 đồng.

- Đồng thời có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07/4/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Yêu cầu thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số nợ.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận P phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là đã tự nguyện từ chối quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Ngân hàng thương mại cổ phần S và bà Nguyễn Thị Kiều L ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 30/12/2016. Sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho bà L với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu đồng), với mục đích tiêu dùng cá nhân, số thẻ 486265-8994. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà L đã thực hiện các giao dịch từ tháng 02/2017 đến ngày 31/5/2017 với tổng số tiền là 17.238.536 đồng, bà L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 4.106.173 đồng trong đó số tiền gốc là 3.317.758 đồng và lãi là 788.415 đồng. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/10/2017, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 15.718.664 đồng làm nợ gốc. Tính đến ngày 06/4/2022, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 43.583.466 đồng (trong đó nợ gốc là 15.718.664 đồng và lãi quá hạn là 27.864.802 đồng). Xét thấy, trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại hợp đồng nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của bà sang nợ quá hạn là đúng với thỏa thuận giữa các bên và phù hợp với quy định của pháp luật, có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,

Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Hội đồng xét xử xét thấy tại Đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/12/2016. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng. Do bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L cư trú tại quận P nên Tòa án nhân dân quận P thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, trong thời hạn khởi kiện và phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L.

Về các yêu cầu của nguyên đơn:

- Xét yêu cầu thanh toán số tiền 43.583.466 đồng (trong đó nợ gốc là 15.718.664 đồng và lãi quá hạn là 27.864.802 đồng).

Hội đồng xét xử nhận thấy, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ văn bản tố

tụng đối với bị đơn trong vụ án theo quy định tại các Điều 170, Điều 171, Điều 172 và Điều 173 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến khi nhận được thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 199 và thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, … mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/12/2016 bà L đã ký với Ngân hàng thì hình thức và nội dung sự thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Ngân hàng và bà L đã thỏa thuận về việc cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 15.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng, bà L đã giao dịch với tổng số tiền là 17.238.536 đồng, đã thanh toán 4.106.173 đồng (trong đó tiền gốc là 3.317.758 đồng và lãi là 788.415 đồng), hiện còn nợ lại nợ gốc là 15.718.664 đồng. Trong việc thực hiện hợp đồng trên, bà L là bên vi phạm hợp đồng, không trả nợ đúng hạn quy định trong hợp đồng, Ngân hàng yêu cầu bà L thanh toán số tiền 43.583.466 đồng (trong đó nợ gốc là 15.718.664 đồng và lãi quá hạn là 27.864.802 đồng) là phù hợp với quy định tại điểm 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

- Xét yêu cầu thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số nợ.

Do bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà L thanh toán số tiền 43.583.466 đồng một lần khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp quy định tại Điều 351 Bộ luật Dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên có căn cứ chấp nhận.

- Xét yêu cầu tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật nếu bà L không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ trên.

Xét hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên có thỏa thuận rõ lãi suất, bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà L phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật nếu bà L không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ trên là phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên có căn cứ chấp nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 91, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 233 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng:

- Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự;

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ tính đến ngày 06/4/2022 là 43.583.466 đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/12/2016, trong đó:

- Nợ gốc: 15.718.664 đồng;

- Lãi quá hạn: 27.864.802 đồng.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 07/4/2022 cho đến khi thi hành án xong, bà L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kiều L phải chịu số tiền 2.179.173 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi chín nghìn một trăm bảy mươi ba đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 880.052 đồng (Tám trăm tám mươi nghìn không trăm năm mươi hai đồng) theo Biên lai thu số 0071606 ngày 08/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận P.

3. Địa điểm thi hành: Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần S và bà Nguyễn Thị Kiều L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ