vanban.org

Bản án 57/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “ Lừa đảo chiế đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ Luật hình sự; Điều 584,585,589 Bộ luật dân sự nă 2015; Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bị cáo Hà Văn T phải trả lại cho anh Đ ng Văn S số tiền 1.000.000đ (Mộ triệu đồng); bồi hường cho anh Nguyễn Tiến D số tiền 2. . đ (Mộ riệu đồng). Sau khi bản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “ Lừa đảo chiế đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2021/HS-ST
Ngày: 11-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hồ Phước Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thu Hà

2. Bà Phạm Thị Tố Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hoài- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: à Trần Thị Qu nh Hoa - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 11 háng 3 nă 2 21 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mở phiên òa công khai để xét xử hình sự sơ hẩm thụ lý số 36/2021 ngày 03/02/2021, theo Quyế định đưa vụ án ra xét xử số 75/2 21/QĐXXST-HS ngày 24/12/2 21 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn T; Tên gọi khác hông Sinh ngày 4 háng nă 1977; Nơi Đ H TT hối Tân Quang phường LM, Thành phố V, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ văn hóa Mù chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Hà Văn N (đ chết) và bà: Hồ Thị L (đ chết); Vợ: Nguyễn Thị H, sinh nă 19 3 con: có 01 con là Hà Văn Th, sinh nă 2 12; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 15/3/2018 bị Tòa án nhân dân Thành phố Vinh xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 07/3/2019; Bị bắt, tạm giữ ạ gia từ ngày 20/11/2020 cho đến nay Có

ại phiên òa.

Người bị hại: Anh Nguyễn Tiến D, sinh nă 1976; Trú tại: Khối 1 phường Hồng Sơn hành phố Vinh, Nghệ An Có

ại phiên òa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đ ng Văn S sinh nă 1993; Trú tại: xóm Thái Thịnh, xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; Vắng m t tại phiên òa có Đơn xin xé xử vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiền tòa, nội dung vụ án được tóm tắ như sau

Khoảng 22 giờ ngày 11/11/2020, Hà Văn T cùng với anh Nguyễn Tiến D, sinh nă 1976 rú ại: Khối 1, phường HS, thành phố Vvà anh Trần Viết H, sinh nă 1975 rú ại phường LM, TP Vinh, tỉnh Nghệ An cùng nhau uống rượu tại quán cháo đê rên đường QT, TP Vinh. Đến 23 giờ cùng ngày, anh Trần Văn H rủ cả nhóm về nhà Hđể tiếp tục uống rượu. Nguyễn Tiến D điều khiển xe mô tô Dre

àu sơn nâu

S 37F9-1657 chở anh H và T về nhà ở anh H. Lúc này, T vào trong nhà anh H tìm thuốc lá để hú nhưng không có. Hoài đưa cho Tân số tiền 10.000 đồng ( ười nghìn đồng) để đi ua huốc. Tân nảy sinh ý định nhân việc đi ua huốc lá để lừa chiế đoạt chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Tiến D bán lấy tiền tiêu xài. T nói dối anh D “Cho e (Tân) ượn xe áy để đi ua huốc rồi về ngay”. Anh D đồng ý giao xe cho T. T điều khiển xe đến khu vực phường Cửa Na TP Vinh để bán. Do các cửa hàng mua bán xe cũ đ ạ đóng cửa nên Tân đến khu vực gầm cầu Cửa Na để ngủ. Khoảng 9 giờ ngày 12/11/2 2 Tân điều khiển xe mô tô BKS: 37F9-1657 trên đến xóm Thái Thịnh, xã NT, huyện NL, tỉnh Nghệ An bán cho anh Đ ng Văn s là người hành nghề sửa chữa xe mô tô lấy 1. . đồng (một triệu đồng). Số tiền này Hà Văn T tiêu xài hết. Ngày 20/11/2020, biế Cơ quan Công an đang điều tra nên Hà Văn T đến Công an phường Lê Mao TP Vinh xin đầu thú.

Căn cứ Kết luận giá định số 156/KL-ĐGTS ngày 23/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Vinh kết luận “ Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Drem, màu nâu đen, mang BKS: BKS: 37F9-1657 đ qua sử dụng có số máy: HAO5E-0243656; số khung: HAO607WY-24362 đăng ký lần đầu ngày 29/12/2000 tại thời điểm háng 11 nă 2020 có giá trị là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng chẵn)”.

Ngày 20/11/2020, nhận thức được hành vi phạm tội của mình và biế được cơ quan công an đang điều tra nên Hà Văn T đ xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vậ chứng vụ án Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Drem, màu nâu đen, mang BKS: BKS: 37F9-1657 đ qua sử dụng mang tên chủ đăng ký Nguyễn Tiến D, sinh nă 1976; Trú tại: Khối 1 phường HS, thành phố V, Nghệ An. Quá rình điều ra Cơ quan Cảnh sá điều ra đ rả lại tài sản là 01 xe mô tô cho chủ sở hữu heo quy định.

Trách nhiệm dân sự Người bị hại là anh Nguyễn Tiến D đ nhận lại tài sản bị chiế đoạt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đ ng Văn S yêu cầu bị cáo trả lại 1. . đ (Mộ triệu đồng) tiền bị cáo bán chiếc xe máy.

Cáo trạng số 75/CT-VKSTPV ngày 01/2/2021 của Viện Kiếm sát nhân dân TP Vinh truy tố Hà Văn T về tội “Lừa đảo chiế đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên oà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tranh luận: giữ nguyên quyế định truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Lừa đảo chiế đoạt tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điể g khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nă 2 15 Xử phạt bị Hà Văn Tân từ 12 đến 15 háng .

Về trách nhiệm dân sự anh Đ ng Văn S vẫn giữ nguyên yêu cầu bị cáo bồi hoàn 1. . đ iền mua xe máy; anh Nguyễn Tiến D yêu cầu bị cáo trả 2. . đ iền sửa xe máy, tại phiên tòa bị cáo nhất trí, cho nên nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về vật chứng: đ xử lý.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ hẩm, dân sự sơ hẩm heo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo rạng của Viện kiểm sát thành phố Vinh đ quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bị hại và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau

. Về tố tụng: Về hành vi, quyế định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sá viên rong quá rình điều tra, truy tố đ hực hiện đúng hẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá rình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyế định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyế định tố tụng của cơ quan iến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đ hực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hà Văn T khai nhận hành vi phạm tội của ình đúng như Cáo rạng của Viện kiểm sát quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáotại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai rong quá rình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, tranh tụng tại phiên oà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 11/11/2020, tại nhà của anh Trần Viết H ở phường LM, thành phố V, Hà Văn T bằng thủ đoạn gian dối đ lấy của anh Nguyễn Tiến D 01 chiếc xe ô ô Honda Dre àu nâu đen trắng biển kiểm soát 37 F9-1657 trị giá 3. . đ đe bán cho Đ ng Văn Sự lấy 1. . đ. Hành vi của Hà Văn T đ phạm vào tội “Lừa đảo chiế đoạt tài sản”.Tội phạm và hình phạ được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự nă 2 15.

. Đánh giá ính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đ xâ phạ đến trật tự an toàn xã hội đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị cáo có nhân thân xấu đ bị xử lý hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét tình tiế ăng n ng trách nhiệm hình sự: bị cáo Hà Văn T ngày 15/3/2018 bị TAND hành phố Vinh ỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộ cắp ài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạ vào ngày 7/3/2019. Đến ngày 11/11/2020, bị cáo lại thực hiện hành vi lừa đảo. Như vậy, lần này phạm tội bị cáo thuộc rường hợp đ bị kế án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiế ăng n ng trách nhiệm hình sự là tái phạ được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo HĐXX hấy: Quá rình điều tra, truy tố và tại phiên òa hô nay bị cáo có hái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo đ có hành vi ra đầu thú rước cơ quan pháp luật; người bị hại trong vụ án có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vậy nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều ình iế giả nhẹ nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyế định hình phạt, thấp hơn ức thấp nhất mà vị đại diện V S đề xuất tại phiên tòa để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luậ để cải tạo tốt, sớm qua lại với cộng đồng xã hội, trở hành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

. Trong vụ án này Đ ng Văn S là người ua chiếc xe ô ô mang BKS: BKS: 37F9-1657 cho Hà Văn T nhưng rong quá rình đó Đ ng Văn S không biế ài sản rên là do Hà Văn Tân phạ ội à có nên Đ ng Văn S không phạ ội.

. Về trách nhiệm dân sự Quá rình điều ra người bị hại là Nguyễn Tiến D đ nhận lại tài sản bị chiế đoạt. Tại phiên tòa, anh Dũng có yêu cầu bị cáo bồi hường 2. . đ iền sữa chữa xe máy. Bị cáo nhấ rí như yêu cầu của người bị hại. Xét thấy bị cáo và bị hại đ ự nguyện thống nhất với nhau về phần dân sự nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận đó.

Anh Đ ng Văn S yêu cầu Hà Văn T rả lại số iền1. . đ à anh đ rả tiền ua xe áy cho Hà Văn T. Xét yêu cầu của anh Đ ng Văn S có cơ sở nên cần buộc bị cáo Hà Văn T trả lại số tiền 1. . đ (Một triệu đồng) cho Đ ng Văn S.

. Về vật chứng trong vụ án: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Drem, màu nâu đen, mang BKS: BKS: 37F9-1657 đ qua sử dụng mang tên chủ Nguyễn Tiến D, sinh nă 1976; Trú tại: Khối 1 phường HS, thành phố V, Nghệ An. Quá rình điều ra Cơ quan Cảnh sá điều ra đ rả lại tài sản là 01 xe mô tô cho chủ sở hữu theo quy định, nay không ai có ý kiến gì nên không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập và công việc không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự heo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “ Lừa đảo chiế đoạt tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điể g khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nă 2 15 Xử phạt: Hà Văn T 9 háng . Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/11/2020.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ Luật hình sự; Điều 584,585,589 Bộ luật dân sự nă 2015; Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bị cáo Hà Văn T phải trả lại cho anh Đ ng Văn S số tiền 1.000.000đ (Mộ triệu đồng); bồi hường cho anh Nguyễn Tiến D số tiền 2. . đ (Mộ riệu đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh Đ ng Văn S, anh Nguyễn Tiến D làm đơn yêu cầu khoản tiền nêu trên, nếu bị cáo không thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Về án phí Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự nă 2 15 khoản 1 Điều 23 Điều 26 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hà Văn T phải chịu 2 . đ (Hai ră ngàn đồng) án phí hình sự sơ hẩm và 3 . đ ( a ră nghìn đồng) án phí dân sự sơ hẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyế định được hi hành heo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự hì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế hi hành án heo quy định tại Điều 6 Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu hi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ