vanban.org

Bản án 57/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 10/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lành phạm tội “Cướp tài sản”;

Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 168; các Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Lành, Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lành 08 (tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 02 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Lành Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lành phạm tội “Cướp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2021/HS-ST
Ngày 10 tháng 9 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Nam Lương;

- Ông Nguyễn Bình Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 09 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2021/HSST ngày 16 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh năm: 1975, tại: Thừa Thiên - Huế; nơi cư trú: Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn L và bà Nguyễn Thị G; có chồng và có 03người con.

Tiền án; tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 02 năm 2021.

Bị cáo đang bị tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Trần Thị C (tên gọi khác: H), sinh năm: 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Bà Trần Thị M, sinh năm: 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Ông Ngô M, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

3. Bà Trần Thị M1, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

4. Ông Nguyễn C, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

1. Ông Đặng Quốc H, sinh năm: 1957; nơi cư trú: Tổ dân phố LS, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Trần H, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Tổ dân phố LP, phường Cam Linh, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Bà Đỗ Thị X, sinh năm: 1994; Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

4. Bà Lê Thị Thu H, sinh năm: 1979; nơi cư trú: Thôn Hiệp T, xã Cam Thịnh Đ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

5. Ông Nguyễn anh t, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Lành và Trần Thị C là hàng xóm với nhau, biết chị C vào mỗi sáng sớm mang theo tiền đến khu vực trong xóm gần nhà bà Trần Thị M mua cá đưa ra chợ bán nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị C.

Khoảng 03 giờ ngày 03 tháng 02 năm 2021, Lành chuẩn bị một cây kéo, mặc áo mưa đến khu vực nhà bà M chờ chị C đến. Trên đường đi, Lành nhặt một áo dài tay màu đen. Khi đến khu vực bên hông nhà bà M, Lành núp sau tấm rèm ngăn giữa lối đi nhà bà M hướng ra biển. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, chị C đi đến cúi người mở tấm rèm, Lành dùng áo trùm lên đầu chị C, tay trái ấn đầu chị C xuống đất, tay phải cầm kéo đâm 02 nhát vào vùng lưng chị C. Chị C chụp được kéo thì Lành giật lại rồi tiếp đâm 03 phát vào đùi chị C và dùng áo bịt miệng chị C, chị C nói “Thả H ra để H đưa tiền”. Lành đưa tay vào túi áo khoác của chị C lấy 01 ví da bên trong có 10.100.000 đồng (mười triệu một trăm nghìn đồng) và 01 chiếc nhẫn vàng 18K có đính đá màu trắng, trọng lượng 1,27 chỉ rồi bỏ chạy về nhà. Sau đó, Lành ném ví da và cây kéo xuống cầu Trà Long.

Qua truy xét, thu giữ tại nhà Lành 01 áo mưa có dính nhiều vết nâu đỏ (nghi là máu) và toàn bộ số tài sản mà Lành chiếm của chị C.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 77/TgT ngày 09 tháng 3 năm 2021, Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của chị Trần Thị C là 03%.

Tại bản kết luận giám định số 2382/C09B ngày 18 tháng 5 năm 2021, Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vết trên chiếc áo mưa màu xanh gửi giám định là máu người; phân tích AND được một kiểu gen nữ giới hoàn chỉnh, trùng với kiểu gen của Trần Thị C.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/HĐĐG ngày 13 tháng 3 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Tổng trị giá tài sản là hiện vật (ví da và nhẫn vàng) mà Lành chiếm đoạt của chị C có giá trị 5.133.000 đồng (năm triệu một trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản gồm tiền và hiện vật mà Nguyễn Thị Lành chiếm đoạt của chị Trần Thị C là 15.233.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 61/CT-VKSCR-HS ngày 16 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lành về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi dùng kéo gây thương tích cho chị Trần Thị C, do chị C không yêu cầu khởi tố, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Lành.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Kết tội bị cáo Nguyễn Thị Lành theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và xử phạt bị cáo từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù, sau khi đã cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

+ Không xem xét giải quyết về bồi thường giữa bị cáo và bị hại do bị hại đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bồi thường.

+ Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 (một) quần lửng và 01 (một) ví da cầm tay; trả lại cho chị Trần Thị C 01 (một) nón vành tròn. Tịch thu và tiêu hủy các vật chứng còn lại.

- Bị cáo Nguyễn Thị Lành đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Không yêu cầu giải quyết về bồi thường thiệt hại.

- Bị hại Trần Thị C đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

1.1. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án đã được cơ quan điều tra làm rõ; các chứng cứ của vụ án đã được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập đầy đủ; hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

1.2. Một số người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa, nhưng sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

. Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, Nguyễn Thị Lành đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 03 tháng 2 năm 2021, tại khu vực bên hông nhà bà Trần Thị M thuộc tổ dân phố TL1, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Thị Lành đã có hành vi dùng kéo – là phương tiện nguy hiểm đâm nhiều nhát vào người, làm cho chị Trần Thị C lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tiền và hiện vật có tổng trị giá là 15.233.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng). Hành vi đó của bị cáo đã đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe và tài sản của người khác, phạm tội rất nghiêm trọng; gây bất ổn về trật tự xã hội và hoang mang trong cộng đồng dân cư. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại và được bị hại đề nghị giảm hình phạt. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo trở thành công dân tốt.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Các vật chứng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu và tiêu hủy; các vật chứng khác là tài sản của bị cáo và bị hại nhưng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu và tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lành phạm tội “Cướp tài sản”;

- Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 168; các Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Lành,

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lành 08 (tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 02 năm 2021.

2. Về vật chứng: Căn cứ Khoản 1 và các Điểm a, c Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự,

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) nón vành tròn có màu vàng nhạt;

- 01 (một) chiếc áo mưa làm bằng nilong màu xanh;

- 01 (một) quần lửng làm bằng vải màu đen sọc trắng của Nguyễn Thị Lành;

- 01 (một) ví da cầm tay màu nâu đen của Nguyễn Thị Lành;

- 01 (một) chiếc áo dài tay, màu đen, khóa áo có dây khóa, trên áo có dòng chữ U.S.ARMY, trên vai áo có hình ngôi sao màu xanh;

- 01 (một) tổ hợp vết màu đỏ giống vết máu và 01 (một) vết màu nâu đỏ giống vết máu.

Tình trạng vật chứng biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 9 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Lành phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 9 năm 2021), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ