- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Chu Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 57/2021/HS-ST Ngày: 26- 05 - 2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Khắc Tường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng
Ông Huỳnh Tiễn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/TLST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn N. Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam. Sinh ngày: 26.10.1992, tại tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn Nam S, xã M H, huyện T H, tỉnh Q B. Chỗ ở:1 A Ỷ Lan Nguyên Phi, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Số CMND:11111111 do Công an tỉnh Q B cấp. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ học vấn: 12/12. Cha: Chu Quang Tr (Sinh năm: 1952, sống); Mẹ: Nguyễn Thị V (chết). Gia đình có 05 anh, em; Bị can là con thứ 05. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú hiện có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Phạm Đức H - Sinh năm: 1993. Nơi ĐKHKTT: Đội 4, xã Ngh L, huyện Ngh H, tỉnh Nam Định. Nơi đăng ký tạm trú: 1A Ỷ Lan Nguyên Phi, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt.)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn V – Sinh năm: 1968.
Địa chỉ: Đội 4, xã Ngh L, huyện Ngh H, tỉnh Nam Định (vắng mặt ).
- Ông Phan Trí Nh - Sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Số 1 Đốc Ngữ, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Văn N phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu vàng, BKS 18L1-246.59 của anh Phạm Đức H thường hay để ở đường luồng của dãy phòng trọ có địa chỉ Ỷ Lan Nguyên Phi, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nhưng không có ai trông coi. Khoảng 22 giờ ngày 24.12.2020, N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để làm phương tiện đi lại. N đã lén lút dắt chiếc xe trên về phòng trọ của mình cất giấu. Đến ngày 26.12.2020, N đem chiếc xe đến tiệm sửa xe tại địa chỉ Đốc Ngữ, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng yêu cầu anh Phan Trí Nh (Sinh năm: 1987; HKTT: Xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) thay đổi màu sơn xe thì bị anh H phát hiện và trình báo Công an phường Hòa Cường Bắc.
Vật chứng thu giữ:
- Anh Phạm Đức H giao nộp: 01 đoạn video có độ dài 47 giây ghi nhận lại hình ảnh Chu Văn Năm trộm cắp xe mô tô vào ngày 24.12.2020, được lưu trữ trong 01 đĩa CD
- Anh Phan Trí Nh giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu vàng, BKS 18L1-246.59, số khung 326482, số máy 326683
- Chu Văn N giao nộp: 01 áo khoác màu xanh nước biển.
Theo Kết luận định giá tài sản số 251/KL-HĐĐG ngày 31.12.2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận Hải Châu, kết luận: xe mô tô BKS 18L1-246.59 nêu trên có trị giá là 6.590.000đ (sáu triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Chu Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 15 (tháng) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 30 (ba mươi) tháng.
- Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu xanh nước biển của bị cáo Chu Văn N vì không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, đã thực sự ăn năn hối cái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để làm ăn giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 24.12.2020, tại địa chỉ Ỷ Lan Nguyên Phi, thành phố Đà Nẵng, Chu Văn Năm lén lút chiếm đoạt của anh Phạm Đức H 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu vàng, BKS 18L1-246.59 giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.590.000 đ (sáu triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng). Hành vi nêu trên của Chu Văn N đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn quận Hải Châu nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo có mẹ là người có nhiều công lao với cách mạng nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định và hành vi phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 áo khoác màu xanh nước biển của bị cáo Chu Văn N giao nộp vì không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu thiêu hủy là có căn cứ.
Đối với 01 hiệu Honda Wave màu vàng, BKS 18L1-246.59, số khung 326482, số máy 326683, xe này của ông Phạm Văn V giao cho ông Phạm Đức H sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho bị hại Phạm Đức H là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo Chu Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Chu Văn N 09 (chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú là UBND xã M H, huyện T H, tỉnh Qu B để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng:
- Căn cứ điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;
Tuyên tịch thu thiêu hủy 01 ( một) áo khoác màu xanh nước biển.
Vật chứng hiện đang được giữ tại Chi cục Thi hành án quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2021
3. Về án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Chu Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND TP Đà Nẵng; - VKSND TP Đà Nẵng; - VKSND quận Hải Châu; - Công an quận Hải Châu; - Cơ quan THA hình sự quận Hải Châu; - Chi cục THA dân sự quận Hải Châu; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Xuân Tùng Huỳnh Tiễn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Khắc Tường HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Khắc Tường |