vanban.org

Bản án 57/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Tuyên án 07/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A Q phạm tội: “ Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/8/2021. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vân chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A Q phạm tội: “ Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÀO CAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2021/HS-ST
Ngày 07- 12 -2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lựa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Đàm Sông Hương

2, Bà Vi Thị Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng A Q, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1990.

Nơi sinh tại huyện VB, tỉnh LC. Nơi cư trú: Thôn M SPh, xã NX, huyện VB, tỉnh LC.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Q tịch: Việt Nam.

Con ông Giàng A S, sinh năm 1961, con bà Sùng Thị D, sinh năm 1963. Hiện đều trú tại xã NX, huyện VB, tỉnh LC.

Vợ: Phà Thị T, sinh năm 1997 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021. Hiện đều trú tại xã NX, huyện VB, tỉnh LC.

Tiền án: Không. Tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2021 hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Văn Bàn. Có mặt.

+) Người bào chữa cho bị cáo Giàng A Q là: Ông Nguyễn Xuân Tuyền -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai -Có mặt.

+) Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Phà Thị T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn MSPh, xã NX, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt có lý do.

+) Người làm chứng: + Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn V 1, xã V L, huyện VB, tỉnh LC. Người làm chứng vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 50 ngày 01/8/2021, Tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai đang làm nhiệm vụ tại thôn Vinh 1, xã Võ Lao phát hiện một nam giới dừng xe mô tô BKS 24 V1-172.46 ở ven đường có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu khai báo họ tên, tuổi, địa chỉ đối tượng khai là Giàng A Q – sinh năm 1990, trú tại thôn Mà Sa Phìn, xã Nậm Xây và khai nhận đang cất giữ một gói thuốc phiện ở giá để hàng phía trước xe mô tô. Tổ công tác đã mời người làm chứng, đưa Giàng A Q và tang vật về Công an xã Võ Lao kiểm tra phát hiện ở giá để hàng phía trước xe mô tô BKS 24 V1-172.46 có một túi đựng áo mưa bên trong có một áo mưa màu đỏ, trong áo mưa màu đỏ có một gói ni lon màu đen tiếp đến là các lớp nilon trong cùng có 05 gói được gói bằng ni lon ở bên ngoài bên trong mỗi gói đều chứa chất nhựa dẻo màu nâu (nghi là ma túy). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng; tạm giữ xe mô tô BKS 24V1- 172.46, một chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số 009763, một chứng minh nhân dân số 063569017 của Giàng A Q, một túi đựng áo mưa, một áo mưa màu đỏ, một điện thoại NOKIA màu đen có số seri1: 353147113110110 lắp thẻ sim số 0822933810; một điện thoại OPPO màu đỏ có số IMEL: 867791049643857 lắp thẻ sim số 0838745561.

Về nguồn gốc nhựa thuốc phiện Giàng A Q khai: Khoảng 07 giờ ngày 01/8/2021 Q được Giàng Thị Sú - sinh năm 1957, ở thôn Mà Sa Phìn, xã Nậm Xây thuê vận chuyển gói thuốc phiện ra ngã ba thuộc thôn Vinh, xã Võ Lao giao cho người phụ nữ tên Hồng rồi nhận tiền đem về cho Sú, Sú sẽ trả cho Q 300.000đ tiền công, Q đồng ý nhận gói nhựa thuốc phiện dùng áo mưa màu đỏ gói lại cho vào túi đựng áo mưa, để vào giá đèo hàng phía trước xe mô tô BKS 24 V1- 172.46 rồi điều khiển xe đi ra xã Võ Lao. Trên đường đi nhiều lần Hồng gọi vào số sim 0822933810 lắp ở điện thoại NOKIA hỏi Q đã đi đến đâu, khi Q đi ra đến ngã ba thuộc thôn Vinh 1, xã Võ Lao dừng ở ven đường thì bị Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang. Tiến hành khám xét chỗ ở của Giàng Thị Sú nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 213 ngày 03/8/2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Tổng số 160,91 gam chất chất nhựa dẻo, màu nâu thu giữ của Giàng A Q gửi giám định là nhựa Thuốc phiện.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 26/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố bị cáo Giàng A Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự.Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Giàng A Q phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Q từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù và không phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý.

Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A Q phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Q 2 năm 03 tháng tù và không phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo Giàng A Q khai nhận: Do muốn kiếm tiền bất chính nên khoảng 09 giờ 50 phút ngày 01/8/2021 bị cáo đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 160,91 gam nhựa thuốc phiện.

Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Giàng A Q, phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai truy tố là đúng người, đúng tội.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến việc độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khỏe con người, là người cha, người chồng nhưng không tu dưỡng, rèn luyện đua đòi, nghiện chất ma túy dẫn đến thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy có khối lượng 160,91 gam nhựa thuốc phiện để kiếm lời, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Giàng A Q không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với việc xuất trình danh sách đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ Q, làm nhiệm vụ Q tế đã được phục viên, xuất ngũ, thôi việc còn sống và đã từ trần từ ngày 01/01/2012 trở về sau được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của ông Giàng A S là bố đẻ của bị cáo Q. Đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó bị cáo Q không được hưởng tình tiết này. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét về nhân thân của bị cáo Q khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ Sng: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo không có tài sản riêng. Xét không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

. Đối với Giàng Thị Sú, hiện không có mặt tại địa phương, không biết Sú đang làm gì ở đâu và người phụ nữ tên Hồng không xác định được họ tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được xử lý sau là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A Q, phạm tội “ vận chuyển trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Q từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù là chưa t ¬ng xøng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi mà bị cáo đã vận chuyển trái phép chất ma túy là 160,91 gam nhựa thuốc phiện để kiếm lời. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ một cách khách quan, toàn diện khi quyết định hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo Giàng A Q thực hiện.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Q 02 năm 03 tháng tù và không phạt tiền đối với bị cáo. Xét thấy, đề nghị mức hình phạt của người bào chữa cho bị cáo là chưa tứng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình, hình phạt bổ Sng để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

. Về vật chứng: Đối với 160,91 gam nhựa thuốc phiện, Cơ quan giám định đã lưu mẫu 15,05 gam nhựa thuốc phiện là có căn cứ nên không đề cập vấn đề giải quyết.

Đối với 145,86 gam nhựa thuốc phiện còn lại sau giám định; 1 túi đựng áo mưa; 01 áo mưa đỏ; 01 điện thoại NOKA màu đen có số se ril: 353147113110110 lắp thẻ sim số 0822933810 (điện thoại không còn giá trị sử dụng) là công cụ, phương tiện sử dụng vào hành vi phạm tội đến nay không còn giá trị sử dụng cần tích thu để tiêu hủy.

Đối với một giấy chứng nhân đăng ký xe mô tô, xe máy số 009763; 01 xe mô tô có lắp mô tô BKS 24 V1-172.46 nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave, màu sơn đỏ - đen – bạc, xe cũ có nhiều vết chầy xước. Có số khung: 3900HY596813; số máy JA 39E0571974 do Q dùng để vận chuyển nhựa thuốc phiện từ thôn Mà Sa Phìn, xã Nậm Xây đến thôn Vinh 1, xã Võ Lao, huyện Văn Bàn bị thu giữ khi bắt quả tang là tài sản chung của Q với chị T. Q dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu ½ giá trị của chiếc xe mô tô để nộp ngân sách nhà nước , còn ½ giá trị của xe mô tô nêu trên trả cho chị Phà Thị T.

Đối với 01 điện thoại OPPO màu đỏ có số IMEL: 867791049643857 lắp thẻ sim số 0838745561; một chứng minh thư nhân dân số 063569017 thu giữ của Giàng A Q. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Giàng A Q tại biên bản trả lại đồ vật ngày 21/10/2021, không có yêu cầu gì khác, nên không đề cập vấn đề giải quyết.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Giàng A Q phạm tội: “ Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/8/2021.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tich thu 145,86 gam nhựa thuốc phiện còn lại; 01 túi đựng áo mưa; 01 áo mưa đỏ; 01 điện thoại NOKA màu đen có số se ril: 353147113110110 lắp thẻ sim số 0822933810 (không còn giá trị sử dụng) thu giữ của Giàng A Q là công cụ, phương tiện sử dụng vào hành vi phạm tội đến nay không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy(chi tiết các vật chứng nêu trên như tại biên bản giao nhận vật chứng kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 28/10/2021).

+ Tịch thu phát mại ½ giá trị của xe mô tô có lắp BKS 24V1-172.46 nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave, màu sơn đỏ - đen – bạc, xe cũ có nhiều vết chầy xước. Có số khung: 3900HY596813; số máy JA 39E0571974 để nộp ngân sách nhà nước, còn ½ giá trị của xe mô tô có lắp BKS 24V1-172.46 nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave, màu sơn đỏ - đen – bạc, xe cũ có nhiều vết chầy xước. Có số khung: 3900HY596813; số máy JA 39E0571974 gắn liền với giấy chứng nhân đăng ký xe mô tô, xe máy số 009763 trả cho chị Phà Thị T (chi tiết các vật chứng nêu trên như tại biên bản giao nhận vật chứng kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 28/10/2021).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Giàng A Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo Bản án: Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01 );

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01);

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn ( 01 );

- Công an huyện Văn Bàn ( 02 );

- Bị cáo ( 01 );

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (01);

- Sở tư pháp tỉnh Lào Cai (01 );

- THAHS, THADS huyện Văn Bàn ;

- V.Phòng, C.Án, T.Phán (03 ).

- Lưu H.sơ vụ án ( 02 ).

Đỗ Thị Lựa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01 );

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01);

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn ( 01 );

- Công an huyện Văn Bàn ( 02 );

- Bị cáo ( 01 );

- Sở tư pháp tỉnh Lào Cai (01 );

- THAHS, THADS huyện Văn Bàn ;

- V.Phòng, C.Án, T.Phán (03 ).

- Lưu H.sơ vụ án ( 02 ).

Đỗ Thị Lựa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01 );

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01);

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn ( 01 );

- Công an huyện Văn Bàn ( 02 );

- Bị cáo ( 01 );

- Sở tư pháp tỉnh Lào Cai (01 );

- THAHS, THADS huyện Văn Bàn ;

- V.Phòng, C.Án, T.Phán (03 ).

- Lưu H.sơ vụ án ( 02 ).

Đỗ Thị Lựa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01 );

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01);

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn ( 01 );

- Công an huyện Văn Bàn ( 02 );

- Bị cáo ( 01 );

- Sở tư pháp tỉnh Lào Cai (01 );

- THAHS, THADS huyện Văn Bàn ;

- V.Phòng, C.Án, T.Phán (03 ).

- Lưu H.sơ vụ án ( 02 ).

Đỗ Thị Lựa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tín 02 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ Sng là phạt tiền. Xét thấy, bi cáo sử dụng số tiền 2.000.000đ để mua bán trái phép chất ma túy bán kiếm lời nên không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình tù và hình phạt bổ Sng đối với bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ