vanban.org

Bản án 57/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 07/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Trung T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Trung T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm; hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/9/2021). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Mai Trung T - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 3…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Trung T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2021/HS-ST
Ngày: 07 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ma Thị Tuyết Mai

Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Duy Sự

2. Ông Mạc Ngọc Day

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: ÔngTrần Trọng An- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2021/TLST-HS, ngày 11 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2021/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Mai Trung T, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 19/02/1996, tại huyện C, tỉnh T.

Nơi cư trú: thôn T 2, xã T, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Mai Văn V, sinh năm 1964; mẹ đẻ: Hoàng Thị T, sinh năm 1972; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Trung T có Giấy phép lái xe hạng C, hiện đang ký hợp đồng thử việc (Lái xe) cho công ty TNHH MTV ĐHg (có trụ sở tại: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh T). Ngày 01/6/2021, Công ty giao cho T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 22C - 037.81 đi chở xi măng từ nhà máy xi măng Tuyên Quang về kho vật liệu của công ty ở thôn T, xã T, huyện C, tỉnh T. Khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô về đến đoạn đường km 28 Quốc lộ 2, thuộc thôn Ao Vệ, xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên, thì bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tuyên Quang (Trạm số 3 tại Km 28, Hàm Yên) tiến hành dừng phương tiện kiểm tra, T xuất trình các loại giấy tờ xe và 01 Giấy phép lái xe (GPLX) ô tô số 010182108965 hạng D mang tên Mai Trung T, cấp ngày 29/3/2018. Tổ công tác tiến hành tra cứu nhanh và nghi ngờ GPLX ô tô do T xuất trình trên là giả. Quá trình làm việc T tự giác khai nhận GPLX trên là giả do T mua trên mạng xã hội Facebook với giá 5.000.000 đồng. Trạm Cảnh sát giao thông Hàm Yên đã chuyển toàn bộ tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên để thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra Mai Trung T khai nhận: T đã học và được cấp Giấy phép lái xe hạng C (cấp cho người lái xe điều khiển xe ô tô tải, kể cả ô tô tải chuyên dùng, ô tô chuyên dùng có trọng tải thiết kế từ 3.500kg trở lên). Khoảng cuối năm 2018, T sử dụng điện thoại từ tài khoản Facebook cá nhân “Trung T” vào mạng Facebook thấy có trang mạng quảng cáo làm các loại GPLX, T đã thỏa thuận đặt mua của trang mạng quảng cáo đó 01 Giấy phép lái xe hạng D với giá là 5.000.000 đồng, T gửi ảnh, thông tin cá nhân và địa chỉ của T cho trang mạng đó (đến nay T không nhớ tên tài khoản trang mạng đó cũng như người bán GPLX giả cho T). Khoảng hơn 10 ngày sau (không nhớ cụ thể ngày), T nhận được một bưu phẩm từ nhân viên chuyển phát (không biết họ tên, địa chỉ của nhân viên đó), T kiểm tra thấy đúng như GPLX đặt mua nên đã thanh toán cho người giao hàng số tiền 5.000.000 đồng. Kiểm tra, T thấy Giấy phép lái xe giả hạng D có ghi thông tin như sau: “GIẤY PHÉP LÁI XE, số 010182108965 hạng D, có giá trị đến ngày 29/3/2023, mang tên Mai Trung T, sinh ngày 19/02/1996; quốc tịch Việt Nam; nơi cư trú: X.Trung Hòa, H.Chiêm Hóa, T. Tuyên Quang, ghi ngày cấp 29/3/2018, in dấu Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội và chữ ký Giám đốc Vũ Văn Viện”. Do đã có GPLX hạng C nên sau khi mua được GPLX hạng D giả T chưa sử dụng đến lần nào. Ngày 01/6/2021, khi điều khiển xe ô tô đi chở hàng T quên không mang theo GPLX hạng C nên khi bị Cảnh sát giao thông kiểm tra T đã dùng GPLX giả hạng D để xuất trình nhằm tránh bị xử phạt.

Tại Kết luận giám định số 531/GĐ-KTHS, ngày 11/6/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: GIẤY PHÉP LÁI XE/ DRIVER’S LICENSE số 010182108965, hạng D, mang tên Mai Trung T, sinh ngày: 19/02/1996; quốc tịch Việt Nam; nơi cư trú: X. Trung Hòa, H. Chiêm Hóa, T. Tuyên Quang; ghi ngày cấp 29/3/2018; có giá trị đến 29/3/2023, in dấu Sở Giao thông vận tải TP. Hà Nội là giả.

- GIẤY PHÉP LÁI XE/ DRIVER’S LICENSE số 080155000119, hạng C, mang tên Mai Trung T, sinh ngày: 19/02/1996; quốc tịch Việt Nam; nơi cư trú: X. Trung Hòa, H. Chiêm Hóa, T. Tuyên Quang; ghi ngày cấp 30/8/2018; có giá trị đến 30/8/2022, in dấu Sở Giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang là thật.

Tại Cáo trạng số 54/CT-VKSHY, ngày 09/8/2021,Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Mai Trung T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo tội danh, điều luật và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Mai Trung T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mai Trung T từ 06 đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án, không áp dụng hình phạt bổ sung.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết việc xử lý vật chứng (tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe giả số 010182108965, hạng D, mang tên Mai Trung T, sinh ngày: 19/02/1996; ghi ngày cấp 29/3/2018; có giá trị đến 29/3/2023, in dấu Sở Giao thông vận tải TP. Hà Nội), khoản tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về việc xem xét hành vi của Mai Trung T:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Trung T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của Mai Trung T còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (Biên bản sự việc, Kết luận giám định...).

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 01/6/2021, Mai Trung T đã có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (sử dụng Giấy phép lái xe ô tô hạng D giả số 010182108965) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 22C - 037.81 tham gia giao thông đường bộ, đi từ thôn Tân Lập, xã Trung Hòa, huyện Chiêm Hóa đến thành phố Tuyên Quang. Khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, khi điều khiển xe ô tô về đến km 28 Quốc lộ 2, thuộc địa bàn thôn Ao Vệ, xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên thì bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tuyên Quang (Trạm số 3 tại Km 28, huyện Hàm Yên) phát hiện.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào trật tự quản lý hành chính và hoạt động đúng đắn, bình thường của các cơ quan Nhà nước. Do đó cần phải có mức án tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy không cần bắt bị cáo phải thi hành hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã T hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên T hành quyền công tố đã T hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, T hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vật chứng, án phí,quyền kháng cáo và các vấn đề khác.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên tạm giữ của Mai Trung T 01 Giấy phép lái xe ô tô số 010182108965, hạng D, mang tên Mai Trung T được xác định là tài liệu, giấy tờ giả nên cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án; đối với 01 Giấy phép lái xe số 080155000119, hạng C, mang tên Mai Trung T, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo; 01 xe ô tô biển kiểm soát 22C - 037.81 cùng các giấy tờ xe đã trả lại cho Công ty TNHH MTV Đông Hường nên HĐXX không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với trang mạng và người làm giấy phép lái xe giả cho bị cáo do không xác định được trang mạng và danh tính của người làm giấy phép lái xe giả nên không có căn cứ để xử lý; đối với Công ty TNHH MTV Đông Hường là chủ xe ô tô biển kiểm soát 22C - 037.81 khi thuê T lái xe và giao xe cho T điều khiển tham gia giao thông không biết T sử dụng giấy phép lái xe ô tô giả, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên HĐXX cũng không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

- Tuyên bố: Bị cáo Mai Trung T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Mai Trung T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm; hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/9/2021).

Giao bị cáo Mai Trung T cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh T nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì T hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng:

Tịch thu, lưu hồ sơ vụ án 01 (một) giấy phép lái xe ô tô giả (số 010182108965, hạng D, mang tên Mai Trung T, sinh ngày: 19/02/1996; quốc tịch Việt Nam; nơi cư trú: X. T, H. C, T. T; ghi ngày cấp 29/3/2018; có giá trị đến 29/3/2023, in dấu Sở Giao thông vận tải TP. Hà Nội).

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ