- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh K - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh K và bị hại Nguyễn Văn M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2021/HS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang về trách nhiệm hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2021/HS-PT Ngày: 24 – 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Hữu Thắng
Ông Nguyễn Đình Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2021/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Minh K, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh K và bị hại Nguyễn Văn M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2021/HS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Minh K, sinh năm 1986, tại Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp 7, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Y và bà Đặng Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị Chúc L; Có con là Nguyễn Tấn P, sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người tham gia tố tụng khác có kháng cáo: Bị hại Nguyễn Văn M, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp 1, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 27/10/2020, Nguyễn Minh K nhậu tại nhà của anh Nguyễn Văn D tại ấp 2, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cùng với Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T, Đặng Hoàng S (tên gọi khác là Tý), Đặng Quốc D, Nguyễn Văn R và Nguyễn Văn T1. Trong lúc nhậu, M nói với K “Tôi khoái ní quá à, cho tôi hôn ní cái”, lúc này M bước qua ôm, hôn rồi cắn vào môi của K. K nói với M “Anh em không giỡn vậy kỳ lắm, không giỡn vậy nữa nghe”. Khoảng 30 phút sau, K không nhậu nữa mà đi ra về thì anh T1 kêu K uống thêm ly nữa, K quay lại cầm trên tay ly thủy tinh màu trắng chiều cao khoảng 12cm, chiều rộng khoảng 25cm, cụng ly với anh T1. Anh M bước đến cạnh K định ôm K nên K nói với M “Mày ôm hôn tao cái nữa tao quánh mày tét đầu”, nghe vậy M nói “Mày dám quánh tao mày quánh đi, quánh tao bể đầu tao đi thưa”, tức giận K đang cầm ly trên tay phải đánh 01 cái trúng vào vùng đầu của M làm vỡ ly thủy tinh. Thấy M bị chảy máu nên K kêu những người nhậu cùng nhậu chở M đi Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long để điều trị đến ngày 30/10/2020 xuất viện. Sau đó, sự việc được trình báo đến cơ quan Công an.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y số 177/20/TgT ngày 15/12/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Hậu Giang kết luận:
“1.Dấu hiệu chính tại thời điểm giám định:
Đa vết thương phần mềm vùng mặt.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ thương tật từng vết thương:
- Vết thương vùng trán điểm theo TT số 22/2019/TT-BYT là 06%.
- Vết thương bờ trên mày trái theo TT số 22/2019/TT-BYT là 03%.
- Vết thương tháp mũi theo TT số 22/2019/TT-BYT là 03%.
2.2 Tổng tỷ lệ thương tích gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại theo TT số 22/2019/TT-BYT là 12% (mười hai phần trăm).
2.3. Cơ chế hình thành vết thương: Các vết thương trên do vật tày có cạnh sắc gây nên”.
Đối với lời trình bày của Nguyễn Minh K về hung khí gây thương tích là ly thủy tinh màu trắng chiều cao khoảng 12cm, chiều rộng khoảng 25cm đã bị vỡ thành nhiều mảnh vỡ tại nhà của ông Nguyễn Văn D và quá trình lau dọn thì ông D đã vứt bỏ những mãnh vỡ của ly thủy tinh xuống sông. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được hung khí để xử lý theo quy định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2021/HS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh K 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 03/7/2021.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12 tháng 7 năm 2021, bị hại Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021, bị cáo Nguyễn Minh K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu được hưởng án treo như kháng cáo của bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình xét xử, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ vì bị hại cũng có yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo, gia đình bị cáo đã bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự như bản án sơ thẩm đã tuyên. Sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại. Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo và bị hại có đơn kháng cáo trong hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Nguyễn Văn M vắng mặt, trước đó đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt sang xin được hưởng án treo như yêu cầu kháng cáo của bị hại. Xét thấy, việc bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo không làm xấu thêm tình trạng của bị cáo, căn cứ Điều 342 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi nội dung kháng cáo của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh K vẫn thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Bản án sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 27/10/2020, trong lúc nhậu tại nhà của anh Nguyễn Văn D, do Nguyễn Văn M có hành động ôm, hôn vào môi và có lời lẽ thách thức đối với bị cáo K, nên bị cáo K đã dùng ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng trán của Nguyễn Văn M gây thương tích 12%. Hành vi trên của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc tình tiết định khung tăng nặng dùng hung khí nguy hiểm. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bố bị cáo K phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo của bị cáo và bị hại, Hội đồng xét xử thấy: Khi quyết định hình phạt, bị cáo K được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo hai năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo K đã thỏa thuận bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho bị hại M theo quyết định của bản án sơ thẩm và bị hại có đơn bãi nại, đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh nên cần áp dụng cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, xét về nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho bị hại cũng một phần xuất phát từ cách cư xử không đúng mực của bị hại khi bị cáo và bị hại cùng là nam giới nhưng bị hại lại có hành vi ôm và hôn môi bị cáo, dù bị cáo đã có lời nói không đồng ý việc làm của bị hại nhưng bị hại vẫn tiếp tục có những lời nói thách thức đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đã thật sự ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt, theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc cho bị cáo được hưởng án treo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên không ai phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh K và bị hại Nguyễn Văn M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2021/HS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang về trách nhiệm hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh K 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Minh K ngay tại phiên tòa.
Giao bị cáo Nguyễn Minh K cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang; - CA tỉnh Hậu Giang; - TAND, VKSND, CA, Chi cục THADS huyện V; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thanh |