- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lâm Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2021/HNGĐ-ST Ngày: 04 – 10 – 2021 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Hồng Ứng.
2/ Bà Lê Thị Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thời Phúc – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2021/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2021/QĐXXST–HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị C, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S.
- Bị đơn: Ông Trần Sáu Đ, sinh năm 1979 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lâm Thị C trình bày:
Bà Lâm Thị C với ông Trần Sáu Đ chung sống với nhau vào năm 2003. Hai người có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện M (nay là huyện T), tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 07/01/2003.
Thời gian đầu hai người sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vả. Vì ông Đ đam mê cờ bạc nhiều lần mà gia đình phải bán tài sản để trả nợ. Từ tháng 11 năm 2020 bà C đã lên Bình Dương làm công nhân hai người không còn gặp mặt với nhau nữa.
Thời gian chung sống ông bà có hai con chung tên Trần Minh Đ1, sinh ngày 03/02/2004 và Trần Bích N, sinh ngày 24/12/2006. Hiện hai con đang sống cùng gia đình bên nội.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Lâm Thị C, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Sáu Đ.
- Về con chung: Đồng ý giao hai con cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Bà C không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết án cũng như tại phiên Tòa bị đơn ông Trần Sáu Đ trình bày:
Ông Đ thừa nhận về tình trạng hôn nhân, đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung như bà C đã trình bày là đúng. Nhưng ông Đ không đồng ý ly hôn vì còn thương yêu vợ con.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị C ly hôn với ông Trần Sáu Đ. Về con chung: Giao con cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, Bà C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà Lâm Thị C vắng mặt nhưng nguyên đơn bà C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà C.
Về nội dung: Nguyên đơn bà Lâm Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Trần Sáu Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lâm Thị C với ông Trần Sáu Đ là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2017, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, ông đam mê cờ bạc phải bán tài sản để trả nợ. Hai người không còn chung sống với nhau từ tháng 11/2020 (bà C bỏ lên Bình Dương làm công nhân), thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc nhau. Đối với ông Đ ông không đồng ý ly hôn với lý do còn thương yêu vợ con nhưng không đưa ra được những chứng cứ thuyết phục. Trong tình cảm vợ chồng phải xây dựng và phát triển từ hai phía. Tại Tòa, trong quá trình hòa giải, bà C cương quyết xin ly hôn bà C cho rằng đã tạo cơ hội hàn gắn nhiều lần nhưng ông Đ không sửa chữa lỗi lầm, hiện nay bà không còn tình cảm với ông Đ nữa. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân này sẽ làm khổ cho cả hai và làm ảnh hưởng đến con cái. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà C yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Cháu Trần Minh Đ1, sinh ngày 03/02/2004 và Trần Bích N, sinh ngày 24/12/2006 đang sống cùng gia đình bên nội. Bà C đồng ý giao hai con cho ông Đ nuôi dưỡng. Xét thấy các con đều có nguyện vọng sống cùng c nên yêu cầu của bà C là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà C yêu cầu nên bà C phải chịu theo luật định.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lâm Thị C.
- Về hôn nhân: Bà Lâm Thị C được quyền ly hôn với ông Trần Sáu Đ.
- Về con chung: Giao cháu Trần Minh Đ1, sinh ngày 03/02/2004 và Trần Bích N, sinh ngày 24/12/2006 cho ông Trần Sáu Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Lâm Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Lâm Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp bà C lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà C. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông Trần Sáu Đ không phải phải nộp án phí.
+ Bà Lâm Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2017/0007819 ngày 05/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà C đã nộp xong án phí.
Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. - UBND xã T, huyện T, S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |