vanban.org

Bản án 57/2021/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 28/04/2021 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THANH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

————————
Bản án số: 57/2021/HNGĐ-PT
Ngày: 28/4/2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Chí Nguyện.

Các

Thẩm phán: Ông

Phan Quyết Thắng và ông Ngô Tiến Phong.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Vĩnh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28-4-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;

Mở phiên

tòa xét xử phúc thẩm công khai

vụ án Hôn nhân

và gia đình

thụ lý

số 46/2021/TLPT-HNGĐ ngày 23/3/2021

về “Tranh chấp hôn nhân

và gia đình”.

Do Bản

án Hôn nhân

và gia đình

sơ thẩm

số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 03-02-2021 của Tòa

án nhân dân huyện P.T, thành phố

Hà Nội

bị Viện kiểm

sát nhân dân huyện P.T kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo Quyết định

số 01/QĐ-KNPT-VKS ngày 05-02-2021.

Theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử phúc thẩm

số 100/2020/QĐXX-PT ngày 22-4-2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Đ.T.O, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn Cẩm Bối,

xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

*

Bị đơn: anh N.G.P, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn

6, xã Tích Giang, huyện P.T, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung:

chị Đ.T.O

kết hôn cùng anh N.G.P

là người

ở xã Tích Giang, huyện P.T, thành phố

Hà Nội trên

cơ sở tự do tìm hiểu

và tự nguyện,

có đăng

ký kết hôn

tại UBND

xã Tích Giang, huyện

P.T vào ngày 14-3-2012. Sau

khi hai bên

gia đình

tổ chức cưới theo phong

tục tập quán,

chị O về sống chung cùng anh

P và gia đình tại xã Tích Giang, huyện P.T.

Quá trình sống chung

vợ chồng

đã xảy

ra mâu thuẫn, nguyên nhân

do chị và anh

P không hợp nhau nên thường xung khắc;

vợ chồng thường xuyên xẩy

ra cãi nhau, dẫn

tới tình cảm

vợ chồng

bị lạnh nhạt

và sống chung không hạnh phúc.

Từ tháng 5-2019,

chị O về nhà

bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay không

ai quan tâm đến

ai nữa. Nay chị O đã làm đơn gửi đến Tòa án xin được ly hôn anh P.

- Về con chung: Vợ chồng

có 01 con chung

là cháu N.T.P, sinh ngày 11-10-2012, hiện cháu Phương đang được chị O nuôi dưỡng.

Khi

ly hôn,

chị Đ.T.O

đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung

và không yêu cầu anh N.G.P đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

-

Về tài sản

và nghĩa

vụ chung:

chị Đ.T.O xác định

vợ chồng không

có tài sản chung

và cũng không

có nghĩa

vụ chung

về tài sản nên không yêu

cầu Tòa

án xem xét giải quyết.

* Trong quá trình

tố tụng

tại Tòa

án cấp sơ thẩm, anh N.G.P không đến làm việc, nên Tòa án không thể tiến hành lấy được lời khai của anh P.

Tại Biên bản

ghi lời khai của ông N.G.M

(bố đẻ anh

P) ngày 06-11-2020, ông Minh cung

cấp thông

tin: anh N.G.P

là con

trai ông; khoảng tháng 3-2012,

gia đình ông

tổ chức cưới cho anh

P và chị Đ.T.O

là người ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương theo phong

tục tại địa phương. Sau

khi cưới,

chị O về sống chung cùng anh

P và gia đình. Quá trình sống chung

vợ chồng anh

P, chị O đã xảy

ra mâu thuẫn nên

chị O đã bỏ về nhà

bố mẹ đẻ ở từ năm 2019 đến nay không

về gia đình ông nữa.

Do vợ chồng mâu thuẫn nên anh

P chán nản

và đi làm

ăn ở bên ngoài, không thường xuyên

ở nhà. anh

P làm

gì, ở đâu

gia đình ông không

ai biết, thỉnh thoảng anh

P có gọi điện thoại

về nhà nhưng cũng không

nói làm

gì ở đâu. Lần

gọi điện gần đây nhất, anh

P biết Tòa

án thụ lý vụ án ly hôn

và nói với ông

là vợ chồng không

ở được

với nhau nên anh

P đồng

ý ly hôn nhưng không đến Tòa án

và để chị O tự giải quyết. Quan điểm của ông

M cũng

đề nghị Tòa

án giải quyết cho

vợ chồng anh

P, chị O ly hôn

vì thực

tế vợ chồng sống

ly thân cũng

đã lâu. Các văn bản

tố tụng của Tòa

án mà ông nhận thay anh

P, thì ông đều thông báo cho anh P biết.

Xác minh

tại Công

an xã Tích Giang, huyện P.T,

thể hiện: Theo

sổ đăng

ký hộ khẩu

mà địa phương đang quản

lý, thì anh N.G.P cùng

vợ là Đ.T.O

và con

là N.T.P đều đăng

ký hộ khẩu thường

trú tại Cụm

10 (nay

là thôn

6) xã Tích Giang, huyện

P.T từ năm 2014 đến nay không thay đổi. Địa phương không biết hiện anh P làm gì và ở địa chỉ nào khác.

* Tại bản

án Hôn nhân

và gia đình

sơ thẩm

số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 03-02-2021 của Tòa án nhân dân huyện P.T, TP Hà Nội đã xử và quyết định:

- chị Đ.T.O được ly hôn anh N.G.P.

-

Về con chung: Giao cháu N.T.P, sinh ngày 11-10-2012 cho

chị Đ.T.O trực tiếp nuôi dưỡng đến

khi cháu Phương

đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa

vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh N.G.P đến

khi có yêu cầu mới hoặc

khi có quyết định khác

của cơ quan Nhà nước thẩm quyền.

anh N.G.P có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ: Không có nên Tòa không xét.

Ngoài

ra, bản

án sơ thẩm còn giải quyết

về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Ngày 05-02-2021, Viện kiểm

sát nhân dân huyện P.T

có Quyết định

số 01/QĐ-KNPT-VKS V/v: Kháng nghị theo

thủ tục phúc thẩm

đối với bản

án hôn nhân

và gia đình

số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 03-02-2021 của Tòa

án nhân dân huyện P.T. Theo

đó, đề nghị Tòa

án nhân dân thành phố

Hà Nội

xét xử phúc thẩm vụ

án theo hướng: Hủy toàn

bộ nội dung bản

án hôn nhân

gia đình nêu trên,

với căn

cứ: Theo Công văn

số 24644/QLXNC-P5 ngày 29/12/2020 của Cục quản

lý xuất nhập cảnh

thì anh N.G.P

đã xuất khẩu

lao động ở Anh

từ ngày 21-4-2012 qua cửa khẩu Nội Bài đến nay chưa

có nhập cảnh.

Do vậy thẩm quyền giải quyết

vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội..

Tại phiên tòa phúc thẩm:

-

chị Đ.T.O

có quan điểm: Giữ nguyên việc

xin rút đơn khởi kiện

ly hôn theo

nội dung đơn

xin rút đơn khởi kiện

đã nộp cho Tòa

án, vì chị biết được

tin anh N.G.P sắp về Việt Nam nên chị O không ly hôn nữa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về

tố tụng: Các đương

sự và Hội đồng

xét xử chấp hành đúng quy định

của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Giữ nguyên quyết định kháng nghị

số 01/QĐ-KNPT-VKS ngày 05-02-2021 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện P.T, bởi: Theo Công văn

số 24644/QLXNC-P5 ngày 29-12-2020 của Cục quản

lý xuất nhập cảnh

- Bộ Công an,

thì anh N.G.P

đã đi xuất khẩu

lao động ở Anh

từ ngày 21-4-2012 qua

cửa khẩu Nội Bài đến nay chưa

có nhập cảnh. Ngày 15-10-2020,

chị Đ.T.O nộp đơn

xin ly hôn

tại Tòa

án thì anh N.G.P

đã đi nước ngoài nên thẩm quyền giải quyết

vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Tại Tòa

án cấp phúc thẩm,

chị Đ.T.O

có đơn

xin rút đơn khởi kiện

để đoàn tụ

với anh

P. Nhận thấy: Việc

rút đơn khởi kiện

của chị O là hoàn toàn

tự nguyện, không

vi phạm quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

Đề nghị Tòa

án nhân dân thành phố

Hà Nội chấp nhận đơn

xin rút đơn khởi kiện của

chị Đ.T.O

và giải quyết phúc thẩm theo hướng: Hủy bản

án sơ thẩm

và Đình chỉ việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau

khi nghiên cứu các

tài liệu

có trong

hồ sơ vụ án và được thẩm

tra tại phiên tòa; căn

cứ vào

kết quả tranh luận

tại phiên tòa, ý kiến của của đương

sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về Tố tụng:

Kháng nghị

số 01/QĐ-KNPT-VKS ngày 05-02-2021 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện P.T đối với bản

án Hôn nhân

và gia đình

sơ thẩm

số 09/2021/ HNGĐ-ST ngày 03-02-2021 của Tòa

án nhân dân huyện

P.T được ban hành đúng thẩm quyền và trong thời hạn luật định là phù hợp quy định pháp luật.

. Xét nội dung kháng nghị:

Hôn nhân của

chị Đ.T.O

và anh N.G.P

là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống

vợ chồng xảy

ra mâu thuẫn;

chị O cùng con

gái đã chuyển

về nhà

bố mẹ đẻ sinh sống

từ năm 2019; anh

P đã đi xuất khẩu

lao động ở Vương quốc Anh

từ ngày 21-4-2012 đến nay chưa

trở về Việt Nam. Việc

chị Đ.T.O cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt và làm đơn xin được giải quyết ly hôn là có căn cứ.

Bị đơn

là anh N.G.P

đã xuất cảnh

ra nước ngoài

để đi xuất khẩu

lao động tại Vương quốc Anh trước thời điểm

chị Đ.T.O nộp đơn khởi kiện

xin ly hôn. Tòa án nhân dân huyện

P.T đã xác minh

và biết việc

bị đơn

đã xuất cảnh trước thời điểm nguyên đơn nộp đơn xin ly hôn.

Việc Tòa

án nhân dân huyện

P.T căn

cứ hướng dẫn

tại Công văn

số 253/ TANDTC-PC ngày 26-11-2018 của Tòa

án nhân dân

tối cao về việc giải quyết

vụ án

ly hôn

có bị đơn

là người Việt Nam

ở nước ngoài nhưng không

rõ địa chỉ để xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa

án nhân dân cấp huyện

là không đúng, bởi

lẽ: Công văn

số 253/TANDTC-PC ngày 26-11-2018 của Tòa

án nhân dân

tối cao xác định trường hợp giải quyết

vụ án ly hôn

có bị đơn

là người Việt Nam

ở nước ngoài nhưng không

rõ địa chỉ,

xác định thuộc trường hợp

bị đơn

cố tình giấu địa chỉ,

thì Tòa

án đưa

vụ án ra xét xử vắng mặt

bị đơn theo

thủ tục chung nhưng không xác định thẩm quyền giải quyết

vụ án là thuộc thẩm quyền

của Tòa

án nhân dân cấp huyện.

Đối

với vụ án này,

đủ căn

cứ để xác định

bị đơn

là anh N.G.P đang ở nước ngoài nên thuộc trường hợp đương

sự ở nước ngoài. Căn

cứ theo quy định

tại khoản 3 Điều

35 và điểm c khoản 1 Điều

37 Bộ luật

tố tụng dân

sự năm 2015,

thì thẩm quyền giải quyết

vụ án là của Tòa

án nhân dân cấp tỉnh. Như vậy, kháng nghị của Viện kiểm

sát nhân dân huyện P.T, thành phố

Hà Nội

là có căn

cứ, phù hợp quy định của pháp luật đủ cơ sở xét được chấp nhận.

Tại đơn

xin rút đơn khởi kiện

vụ án ly hôn

đề ngày 06-4-2021

và tại phiên tòa phúc thẩm,

thì chị Đ.T.O đều

thể hiện quan điểm:

Tự nguyện

xin rút đơn khởi kiện

xin ly hôn

để đoàn

tụ với anh N.G.P.

Do anh P đang ở nước ngoài

và các bên đương

sự không cung cấp

địa chỉ hiện nay của anh

P nên không

thể tiến hành

lấy ý kiến của anh P về việc chị O rút đơn khởi kiện.

Xét thấy: Việc

chị Đ.T.O làm đơn xin

rút đơn khởi kiện

là hoàn toàn

tự nguyện, không trái quy định pháp luật

và đạo đức

xã hội, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự nên được chấp nhận.

Do chị Đ.T.O rút đơn khởi kiện nên Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án.

.

Về án phí: Căn

cứ quy định

tại Điều 147

Bộ luật

tố tụng dân

sự; Điều 26, khoản

5 Điều 27, Điều

29 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của

Ủy ban Thường

vụ Quốc hội,

thì nguyên đơn phải chịu tiền

án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 299, khoản 4 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn

cứ Điều 147

Bộ luật

tố tụng dân

sự; Điều

26, khoản 5 Điều

27 và Điều 29 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội. Xử:

1. Chấp nhận kháng nghị

số 01/QĐ-KNPT-VKS ngày 05-02-2021

của Viện kiểm sát nhân dân huyện P.T.

- Hủy bản

án hôn nhân gia đình

sơ thẩm

số 09/2021/HNGĐ-ST ngày 03-02-2021 của Tòa án nhân dân huyện P.T, thành phố Hà Nội.

- Đình chỉ việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Đ.T.O, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn Cẩm Bối,

xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

*

Bị đơn: anh N.G.P, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn

6, xã Tích Giang, huyện P.T, thành phố Hà Nội.

2.

Về án phí:

chị Đ.T.O phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền

án phí ly hôn

sơ thẩm

và được

đối trừ vào

số tiền

đã nộp tạm ứng

án phí theo biên

lai thu tiền

số 0003326 ngày 04-11-2020

tại Chi

cục Thi hành

án dân

sự huyện P.T, thành phố Hà Nội. Ghi nhận chị Đ.T.O đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ