- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Xuân M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đồng Xuân M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2020/HSST Ngày: 09 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương và ông Dương Văn Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2020/HSST ngày 01/6/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST-HS ngày 26/6/2020 đối với bị cáo:
Đồng Xuân M, sinh năm 1984 tại phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư số 13, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Xuân N và bà Vũ Thị H; có vợ là Phạm Thị L và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPVPHC ngày 16/3/2016 của Công an phường Phả Lại xử phạt Đồng Văn M 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 17/3/2016, Đồng Văn M đã chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 15/4/2020; có mặt.
* Bị hại: Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Nhất V – Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T – Phó Tổng giám đốc
Địa chỉ: Lô B5.1, khu công nghiệp C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
* Người làm chứng: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1951;
Địa chỉ: KDC số 13, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa tháng 02/2020, Đồng Xuân M được thuê lắp đặt điện nước tại Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam, trụ sở tại khu công nghiệp C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Trong quá trình làm việc, thấy công ty sử dụng loại dây diện lõi đồng có giá trị cao nên M nảy sinh ý định trộm cắp để lấy tiền. Trưa ngày 01/4/2020, M mua 01 chiếc cưa sắt loại nhỏ (dài 30cm, không có tay cầm) giấu trong người. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, lợi dụng lúc mọi người trong công ty nghỉ trưa, M đi đến vị trí để cuộn dây diện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 5cm, bên trong có chứa các sợi làm bằng kim loại màu đồng, trên vỏ có ghi chữ CHNT và thông số 4x95+1x50 ở khu vực đường giao thông nội bộ phía Tây Nam của công ty. Quan sát xung quanh không có ai, M dùng tay trái giữ dây cáp điện, tay phải cầm cưa, cưa khoảng 30 phút thì được 01 đoạn dây điện dài 4,95m. M gập cuộn dây vừa cưa được đưa qua khe hàng rào của công ty ra ngoài đường. Sau đó, M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 34K3-5499 (xe M mượn của mẹ là bà Vũ Thị H, bà H không biết M sử dụng vào việc trộm cắp tài sản) đi ra vị trí vừa vất đoạn dây rồi bê lên xe chở đến quán thu mua sắt vụn của chị Hoàng Thị H ở Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. M nói với chị H là dây điện do M đi làm thừa và bán cho chị H được số tiền 700.000đ. Cũng với thủ đoạn tương tự, vào trưa các ngày 03/4/2020 và ngày 05/4/2020, cũng tại vị trí để cuộn dây điện như trên, M tiếp tục trộm cắp được 02 đoạn dây điện dài 3,9m và 3,45m, rồi đem bán cho chị H lấy số tiền 700.000đ và 680.000đ. Trưa ngày 10/4/2020, M đi lên tầng 2 của nhà xưởng II của công ty, thấy ở cầu thang bộ có cuộn dây điện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 3cm, bên trong có chứa các sợi làm bằng kim loại màu đồng, trên vỏ có ghi chữ CHNT và thông số 5x16, quan sát thấy không có ai, M lấy cưa sắt giấu trong người ra cưa khoảng 10 phút được đoạn dây diện dài 16,9m. M cuộn đoạn dây vất xuống đất rồi đi theo cầu thang bộ xuống vác cuộn dây vất qua bờ tường ra bãi đất trống bên ngoài và lấy xe mô tô ra chở đoạn dây đến nhà chị H bán được số tiền 480.000đ. Ngày 11/4/2020, Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam có đơn trình báo về việc bị trộm cắp 04 đoạn dây điện trên với Công an phường C. Công an phường C đã làm rõ đối tượng trộm cắp là Đồng Xuân M. Chị Hoàng Thị H sau khi biết 04 đoạn dây điện đã mua là tài sản do M trộm cắp đã tự nguyện giao nộp cho công an phường. Cơ quan điều tra đã tạm giữ của M chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 34K3-5499.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23 ngày 14/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân thành phố Chí Linh kết luận:
- 01 dây điện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 5cm, bên trong có chứa các sợi làm bằng kim loại màu đồng, chiều dài 4,95m, trên vỏ có ghi chữ CHNT và thông số 4x95+1x50 tại thời điểm ngày 01/4/2020 có giá 2.128.500đ.
- 01 dây điện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 5cm, bên trong có chứa các sợi làm bằng kim loại màu đồng, chiều dài 3,9m, trên vỏ có ghi chữ CHNT và thông số 4x95+1x50 tại thời điểm ngày 03/4/2020 tài sản nêu trên trị giá 1.677.000đ.
- 01 dây điện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 5cm, bên trong có chứa các sợi làm bằng kim loại màu đồng, chiều dài 3,45m, trên vỏ có ghi chữ CHNT và thông số 4x95+1x50 tại thời điểm ngày 05/4/2020 có trị giá 1.483.500đ.
- 01 dây diện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 03cm, bên trong có chứa các sợi làm bằng kim loại màu đồng, chiều dài 16,9m, trên vỏ có ghi chữ CHNT và thông số 5x16 tại thời điểm ngày 10/4/2020 có trị giá 5.070.000đ.
Tổng giá trị tài sản tại thời điểm định giá là: 10.359.000đ.
Bản Cáo trạng số 46/CT-VKS-CL ngày 29/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Đồng Xuân M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố bị cáo Đồng Xuân M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đồng Xuân M từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 15/4/2020; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Buộc bị cáo Đồng Xuân M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2020 đến ngày 10/4/2020, tại Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam, có địa chỉ tại Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Đồng Xuân M đã 04 lần chiếm đoạt của Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam các đoạn dây điện, cụ thể là: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/4/2020, Đồng Xuân M đã chiếm đoạt 01 dây diện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 5cm, chiều dài 4,95m, trị giá 2.128.500đ; Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 03/4/2020, Đồng Xuân M chiếm đoạt 01 dây điện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 5cm, chiều dài 3,9m, trị giá 1.677.000đ; Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 05/4/2020, Đồng Xuân M chiếm đoạt 01 dây điện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 5cm, chiều dài 3,45m, trị giá 1.483.500đ; Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/4/2020, Đồng Xuân M chiếm đoạt 01 đoạn dây điện có vỏ làm bằng nhựa màu đen, đường kính 3cm, chiều dài 16,90m, trị giá 5.070.000đ. Tổng giá trị tài sản mà Đồng Xuân M đã chiếm đoạt của Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam là 10.359.000đ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của cá nhân, tổ chức; gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích vụ lợi. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2016, đã bị Công an phường Phả Lại xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Trong 04 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam, có 02 hành vi vào ngày 01/4/2020 (chiếm đoạt tài sản trị giá 2.128.500đ) và ngày 10/4/2020 (chiếm đoạt tài sản trị giá 5.070.000đ) đã đủ yếu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; Người đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Chí Linh đã trả lại cho người bị hại 04 đoạn dây điện cho Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam; trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 34K3-5499 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Vũ Thị H. Việc xử lý vật chứng như vậy là phù hợp nên không đặt ra việc giải quyết.
Đối với chiếc cưa sắt M khai sử dụng để cưa các đoạn dây điện, sau đó vất ở trước cửa quán sắt vụn của chị Hoàng Thị H, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu thập được, do vậy, không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Bị hại là Công ty TNHH hàng tiêu dùng K Việt Nam đã nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Chị H không yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại số tiền 2.560.000đ chị H đã bỏ ra để mua số dây điện và có ý kiến cho bị cáo số tiền này, không yêu cầu tòa án giải quyết. Do vậy, không đặt ra việc giải quyết về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại.
Đối với hành vi của chị Hoàng Thị H mua các sợi dây điện nhưng không biết các sợi dây này do bị cáo phạm tội mà có. Sau khi hành vi của bị cáo bị phát hiện, chị H đã giao lại toàn bộ số dây điện đã mua cho Cơ quan điều tra để trả lại bị hại. Hành vi của chị H ngay tình, nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đồng Xuân M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đồng Xuân M 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 15/4/2020.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
4. Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Đồng Xuân M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đồng Xuân M có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Chí Linh; - S Tư pháp tỉnh HD; - Chi cục THA thành phố Chí Linh; - Lưu hồ sơ; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |