vanban.org

Bản án 57/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 26/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Thái H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt bị cáo Trƣơng Thái H 06 (Sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2020. Về trách nhiệm dân sự: anh Đặng Đức T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu giì khác nên không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thái H lừa đảo mua điện thoại - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trƣơng Thái H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 57/2020/HSST
Ngày: 26/8/2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Trọng Khá và bà Võ Thị Hồng Trà

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Uyên – Công chức Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hải Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 26/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2020/HSST ngày 30/7/2020 đối với bị cáo: Trương Thái H- sinh ngày: 09/5/1987,Tên gọi khác: Tý em, Giới tính: Nam, Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: đường L, phường L, Thành phố Q, tỉnh Bình Định, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12, cha: Trương Công A - Sinh năm 1953, Mẹ: Nguyễn Thị C - Sinh năm: 1960, Có 4 anh chị em, bị can là con út, Tiền sự: Không, Tiền án:

-Ngày 06/9/2007 bị Tòa án nhân dân Quận B, TP Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS 1999, chấp hành xong.

-Ngày 20/12/2010 bị Tòa án nhân dân Tp. Q, tỉnh Bình Định xử phạt 05 năm tù, về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS 1999;

-Ngày 23/9/2016 bị Tòa án nhân dân Tp. Q, tỉnh Bình Định xử phạt 03 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 139 BLHS 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2018.

Bị cáo bị tam giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2020, có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời bị hại: Đặng Đức T, sinh năm: 1988; địa chỉ: thôn P, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời làm chứng:

1. Nguyễn Minh H, sinh năm: 1955; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

Nguyễn Thị Xuân S; sinh năm: 1972, địa chỉ: khu phố P, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Trương Thái H Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trương Thái H đã tái phạm chưa được xóa án tích nhưng vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 27/4/2020 tại Khách sạn T ở địa chỉ đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên có hành vi gian dối nhằm lừa đảo chiếm đoạt của anh Đặng Đức T số hàng hóa là điện thọai di động và các phụ kiện điện thọai di động có tổng giá trị 155.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 29 tháng 7 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Trương Thái H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và kết luận vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c, d khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 6 tháng tù.

Về dân sự: anh Đặng Đức T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác nên không xét.

Về vật chứng: Đã trả cho chủ sở hữu: 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Gold, 256 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu SamSung SM-G988BIDS số EID 89nn; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Silver, 64 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, SpaceGray, 646 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, Gold, 256 GB,số Seri Fnn; 01(một) tai nghe nhãn hiệu Sony, loại WF-1000XM3BME, 61501/SDBBI/2019;

Vật chứng đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng và tài sản tạm giữ ngày 31/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, đề nghị:

-Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ví da cầm tay màu đen, 01 (một) ví da màu nâu, 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Trung T số Cnn, 01 (một) sim điện thoại di động hiệu Vinaphone.;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1203, 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, imei1: 862449040827533, imei2: 862449040827525;

- Trả lại cho cho Trương Thái H: 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Trương Thái H, 3.220.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, HĐXX nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các hành vi, quyết định tố tụng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trương Thái H với ý thức chiếm đoạt tài sản bằng phương thức thủ đọan đặt mua hàng qua mạng sau khi nhận hàng rồi thanh toán cho người giao hàng, bị cáo sau khi nhận hàng không thanh toán mà tìm cách đánh lừa người giao hàng để chiếm đoạt tài sản. Nên vào ngày 24/4/2020 H đăng nhập tài khoản với tên “Hồng Phát” có số điện thoại đăng ký là 0916933124 để vào trong ứng dụng Lazada đặt mua 06 sản phẩm, gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Gold, 256 GB; 01(một) điện thoại di động hiệu SamSung SM-G988BIDS; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Silver, 64 GB; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, SpaceGray, 64 GB; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, Gold, 256 GB; 01(một) tai nghe nhãn hiệu Sony, loại WF-1000XM3BME. Phương thức thanh toán giao hàng nhận tiền, gửi đến địa chỉ giả do H tự đặt ra là: Nguyễn Hồng P ở BG2/01 đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, số điện thoại nhận hàng 0916933124. H đến TP T từ trước và thuê ông Nguyễn Minh H là người chạy xe ôm chọn khách sạn có 2 cửa thông ra hai đường khác nhau để làm nơi giao nhận với nhân viên giao hàng. H chọn khách sạn T ở địa chỉ đường N, Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Sáng ngày 27/4/2020, anh Đặng Đức T là nhân viên của Công ty cổ phần dịch vụ G chi nhánh Tuy Hòa tiếp nhận giao 06 đơn hàng trên để giao cho H. Anh T gọi điện đến số 0916933124 cho H để hẹn gặp giao hàng nhưng H thay đổi địa điểm nhận hàng tại nhiều nơi khác nhau rồi cuối cùng hẹn với anh T đến giao hàng tại khách sạn T. Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 27/4/2020 anh T đem 06 đơn hàng đến cửa ra vào phía Tây của Khách sạn T để giao hàng theo yêu cầu của H. Sau khi kiểm tra hóa đơn và kiểm đếm đủ số hàng, để tạo lòng tin H lấy 500.000 đồng bồi dưỡng cho anh T, rồi nói anh T đứng đợi ngoài cửa khách sạn để H vào khách sạn lấy tiền ra thanh toán nhưng sau đó đã đem số hàng bỏ trốn ra cửa phía Đông của khách sạn T tẩu thoát thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Thái H đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với số tiền chiếm đoạt giá trị 155.400.000 đồng và phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại Điểm c, d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có tiền án: Ngày 06/9/2007 bị Tòa án nhân dân Quận B, TP Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS 1999; Ngày 20/12/2010 bị Tòa án nhân dân TP Q, tỉnh Bình Định xử phạt 05 năm tù, về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS 1999; Ngày 23/9/2016 bị Tòa án nhân dân TP Q, tỉnh Bình Định xử phạt 03 năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 139 BLHS 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2018. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự ở địa phương, nên phải xử nghiêm, mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo do đó áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, học tập tốt.

Về dân sự: Người bị hại Đặng Đức T đã nhận tài sản, không yêu cầu gì khác, nên Tòa không xét.

Về vật chứng: Theo biên bản giao nhận vật chứng và tài sản tạm giữ ngày 31/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Gold, 256 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu SamSung SM-G988BIDS số EID 89033023422100000000002849859917; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Silver, 64 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, SpaceGray, 646 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, Gold, 256 GB,số Seri F2LZW40LN710; 01(một) tai nghe nhãn hiệu Sony, loại WF-1000XM3BME, 61501/SDBBI/2019; Đã trả cho chủ sở hữu nên không xét.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ví da cầm tay màu đen; 01 (một) ví da màu nâu; 01 (một) sim điện thoại di động hiệu Vinaphone;

- 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Trung T số Cnn giao cho Phòng Xuất nhập cảnh Công an tỉnh Phú Yên lưu giữ, xử lý theo qui định pháp luật;

- Trả cho Trương Thái H: 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Trương Thái H; 3.220.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1203; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, imei1: 862449040827533, imei2: 862449040827525.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Thái H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trƣơng Thái H 06 (Sáu) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2020.

Về trách nhiệm dân sự: anh Đặng Đức T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu giì khác nên không xét.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự , Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Gold, 256 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu SamSung SM-G988BIDS số EID 89033023422100000000002849859917; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro, Silver, 64 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, SpaceGray, 646 GB, số Seri Fnn; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 11Pro Max, Gold, 256 GB, số Seri Fnn; 01(một) tai nghe nhãn hiệu Sony, loại WF-1000XM3BME, 61501/SDBBI/2019; Đã trả cho chủ sở hữu nên không xét.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ví da cầm tay màu đen; 01 (một) ví da màu nâu; 01 (một) sim điện thoại di động hiệu Vinaphone;

- 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Trung Thanh số Cnn giao cho Phòng Xuất nhập cảnh Công an tỉnh Phú Yên lưu giữ, xử lý theo qui định pháp luật;

- Trả cho bị cáo Trương Thái H: 01 (một) Chứng minh nhân dân mang tên Trương Thái H; 3.220.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1203; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, imei1: 862449040827533, imei2: 862449040827525.

(Theo nội dung Biên bản giao nhận vật chứng và tài sản tạm giữ ngày 31/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.)

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ