vanban.org

Bản án 57/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 11/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tô Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Tô Huy H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 05/3/2020. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 7.000.000 đồng tại Tô Huy H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Huy H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tô Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2020/HS-ST
Ngày: 11-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hậu Diệu

Bà Võ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Minh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Tô Huy H, sinh ngày 26/12/1987 tại huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Đức H1 và bà Trần Thị L; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 03, cụ thể: Ngày 01/11/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt cả 02 tội là 27 tháng tù theo Bản án số 17/2006/HSST (ngày 14/7/2008 chấp hành án xong hình phạt tù); Ngày 26/2/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 60 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 06/2009/HSST (ngày 05/11/2013 chấp hành án xong hình phạt tù); Ngày 21/11/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 60 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 140/2014/HSPT (ngày 28/9/2018 chấp hành án xong hình phạt tù); Nhân thân: Ngày 28/4/2003 bị Công an thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Công an thành phố Hà Tĩnh) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 42/QĐ-XPVPHC; Ngày 06/5/2003 bị Ủy ban nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 364/QĐ-UB (ngày 02/6/2005 chấp hành xong); Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/3/2020 đến nay; Có mặt.

Bị hại: Em Nguyễn Duy T, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn N, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Học sinh; Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Thị H2 (mẹ đẻ); Địa chỉ: Thôn N, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh – Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Duy Q, sinh ngày 26/4/2002; Địa chỉ: Thôn N, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Học sinh; Vắng mặt

2. Chị Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 9, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/3/2020, Tô Huy H phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT màu đen, BKS 38AL-010.40 của em Nguyễn Duy T (xe mượn của anh Nguyễn Duy Q) dựng trên vỉa hè đường Nguyễn Công Trứ ở khu vực đối diện cổng trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt Đức thuộc phường Thạch Quý, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh có chìa khóa cắm ở ổ khóa sau cốp xe, không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp. H mở cốp xe thấy có 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Duy Q và 02 chiếc mũ bảo hiểm. H bỏ 02 chiếc mũ bảo hiểm ở vỉa hè rồi dùng chìa khóa mở ổ khóa điện lấy chiếc xe điều khiển đến thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H đưa xe đến quán bi-a tại số nhà 62, đường T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh của chị Trần Thị Thanh T1. H nói với chị T1 đây là xe của em trai, có giấy đăng ký xe và cầm cố cho chị T lấy 7.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KLĐG ngày 05/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Hà Tĩnh kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT màu đen BKS 38AL-010.40, đã qua sử dụng có trị giá 13.500.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai khiếu nại gì về kết luận nêu trên của Hội đồng định giá tài sản.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKS-TPHT ngày 17/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố bị cáo Tô Huy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Tô Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Tô Huy H từ 03 năm đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 05/3/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 7.000.000 đồng tại Tô Huy H.

Bị cáo không tranh luận gì. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bài bảo vệ có nội dung: nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về dân sự bị hại không yêu cầu gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/3/2020, tại vỉa hè đường Nguyễn Công Trứ khu vực đối diện cổng trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt Đức thuộc phường Thạch Quý, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, Tô Huy H đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT màu đen BKS 38AL-010.40 trị giá 13.500.000 đồng của em Nguyễn Duy T rồi cầm cố cho chị Trần Thị Thanh T1 lấy số tiền 7.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, đang bị tạm giam nên không xử phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng. Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tại phiên tòa là có căn cứ.

Về biện pháp tư pháp: Số tiền bị cáo cầm cố chiếc xe trộm cắp được 7.000.000đ là tiền thu lợi bất chính, theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự cần truy thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT màu đen, BKS 38AL-010.40 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Duy Q trả lại cho anh Nguyễn Duy Q là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Em Nguyễn Duy T, chị Trần Thị Thanh T1 không yêu cầu bồi thường, anh Nguyễn Duy Q sau khi nhận lại chiếc xe mô tô không yêu cầu bồi thường thêm nên miễn xét.

Đối với chị Trần Thị Thanh T1 nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT màu đen BKS 38AL-010.40 nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không xử lý là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Tô Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Tô Huy H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 05/3/2020.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 7.000.000 đồng tại Tô Huy H.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc Tô Huy H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ