- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Võ Văn Hồng N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy” - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phươn…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận các kháng cáo của bị cáo Võ Văn Hồng N, kháng cáo của đại diện hợp pháp của các bị hại là các ông bà Trần Thanh Tuấn, Võ Thị Nguyệt T2, Bùi Thị Hồng T3, Trần Thế Tiến, Trần Thế Phương và giữ N bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57 /2020/HS-PT Ngày: 09/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Long.
+ Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Tuấn.
Bà Bùi Thị Nghĩa.
+ Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Chiến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Phạm Bai - Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/TLPT-HS ngày 04/6/2020 đối với bị cáo Võ Văn Hồng N do có kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Văn Hồng N - sinh năm 1977 tại V, Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn Ninh Thọ, xã V1, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 9/12; con ông Võ Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị H (1957); vợ Hà Thị Thu P (1979) con có 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện hợp pháp người bị hại có kháng cáo:
. Đại diện hợp pháp của bà Lý Thị Thanh T: Ông Trần Thanh T1 - sinh năm 1979; trú tại: Số 21, tổ 6A, đường Xuyên Á, khu phố Tân Hòa, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Ông Tuấn có mặt tại phiên tòa.
. Đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Văn Tr: Chị Võ Thị Nguyệt T2 - sinh năm 1991; tạm trú tại: Số 21, tổ 6A, khu phố, Tân Hòa, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Thôn Ninh Thọ, xã V1, huyện V, Khánh Hòa. Chị Nguyệt T2 có mặt tại phiên tòa.
. Đại diện hợp pháp ông Trần Thế Ph: Bà Bùi Thị Hồng T3 - sinh năm 1945; Ông Trần Thế Tiến - sinh năm 1969; ông Trần Thế Phương - sinh năm 1974. Đều trú tại: 64 Đặng Tất, phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà T3, ông Tiến, ông Ph đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/6/2019, Võ Văn Hồng N điều khiển tàu cá vỏ gỗ, máy hiệu JIANGDONG có công suất 24 C, hộp số cơ 3.8, có chiều dài 8.05m, rộng 2,13m, không có số đăng ký, chở theo 19 người có quan hệ vợ, con, thông gia, người thân với gia đình của N đến Hòn Bịp thuộc thôn Điệp Sơn, xã Vạn Thạnh, huyện V chơi, tắm biển, ăn uống. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, N điều khiển tàu cá chở tất cả số người này đi về hướng thôn Ninh Thọ, xã V1, huyện V. Khi đi đến tọa độ 12 độ 44.409N; 109 độ 18.529E thuộc vùng biển giáp ranh hai xã V1 - Vạn Thạnh, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, cách mũi Hòn Bịp, thôn Điệp Sơn, xã Vạn Thạnh về hướng Bắc 0.44 hải lý (tương đương 0,814 km) và cách bờ biển thôn Ninh Thọ, xã V1 1,64 hải lý (tương đương 3,037 km) thì gặp gió mạnh làm sóng nước biển văng lên tàu, lúc này số người đang ngồi bên trái lấn sang bên phải làm tàu nghiêng sang bên phải, nước trào vào khoang tàu. N điều khiển cần bánh lái tàu để giữ thăng bằng thì cần điều khiển bánh lái bị gãy gây chìm tàu. Số người trên tàu của N vịn vào các đồ vật trên tàu như thùng xốp, ván gỗ, can nhựa… Khoảng 30 phút sau, có tàu đánh cá của anh Trần Chí Linh, ông Nguyễn Văn Thiều trên đường đi đánh bắt hải sản về phát hiện có số người giơ tay kêu cứu, anh Linh lái tàu vớt số người lên tàu. Tại nạn xảy ra làm ông Trần Thế Ph, bà Lý Thị Thanh T tử vong khi vớt lên tàu của anh Linh; anh Nguyễn Văn Tr mất tích, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì được cơ quan chức năng và người dân vớt được thi thể dưới đáy biển, cách vị trí tàu chìm khoảng 30m.
Tại các Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 336/TT-TTPY, 337/TT-TTPY và 338/TT-TTPY cùng ngày 21/6/2019 đều của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa đã kết luận: Do gia đình bà Lý Thị Thanh T, ông Trần Thế Ph, anh Nguyễn Văn Tr không đồng ý mổ nên không kết luận N nhân tử vong.
Tại Công văn số 399/TTPY ngày 03/10/2019 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa phúc đáp Công văn số 439/ĐTTH ngày 14/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Khánh Hòa “V/v giám định N nhân chết” của bà Lý Thị Thanh T, ông Trần Thế Ph, anh Nguyễn Văn Tr như sau: Vì gia đình không đồng ý phẩu thuật tử thi nên không kết luận N nhân tử vong.
Tại Công văn số 582/CCTS-TTSVN ngày 02/8/2019 của Chi cục Thủy sản Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa đã xác định tàu cá của Võ Văn Hồng N là tàu đóng tự phát, không có giấy chứng nhận đăng ký, không có giấy phép khai thác T sản của cơ quan quản lý cấp. Chi cục Thủy sản kết luận: Về hoạt động đánh bắt nguồn lợi thủy sản, tàu không đủ điều kiện lưu thông.
Tại Bản án số 12/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Khánh Hòa đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 272; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự; điểm b, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Văn Hồng N 04 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Ngoài ra, bản án còn quyết định về dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 07/5/2020, bị cáo Võ Văn Hồng N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Vào các ngày 06, 07/5/2020 lần lượt chị Võ Thị Nguyệt T2, anh Trần Thanh Tuấn, bà Bùi Thị Hồng T3, anh Trần Thế Tiến, anh Trần Thế Phương đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của các đại diện hợp pháp của các bị hại, giữ N bản án sơ thẩm vì xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ gì mới nên không có cơ sở để chấp nhận các kháng cáo nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Văn Hồng N, của đại diện hợp pháp của các bị hại đều còn trong hạn luật định nên hợp lệ để xem xét.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Văn Hồng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Bản án số 12/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Khánh Hòa đã xét xử bị cáo Võ Văn Hồng N về tội “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường thủy” theo điểm a khoản 3 Điều 272 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo: Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang bất ổn trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức được việc làm của mình là sai trái nhưng bị cáo vẫn thực hiện, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên cần xử phạt nghiêm. Xét thấy mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, quá trình tranh tụng ở cấp phúc thẩm không làm phát sinh tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cũng như kháng cáo của các đại diện hợp pháp của các bị hại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận các kháng cáo của bị cáo Võ Văn Hồng N, kháng cáo của đại diện hợp pháp của các bị hại là các ông bà Trần Thanh Tuấn, Võ Thị Nguyệt T2, Bùi Thị Hồng T3, Trần Thế Tiến, Trần Thế Phương và giữ N bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 272; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Võ Văn Hồng N.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Võ Văn Hồng N 04 (bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Bị cáo Võ Văn Hồng N phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - TAND huyện V; - VKSND huyện V; - Công an huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Long |