- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Thu H ly hôn Trần Tuấn M"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Đặng Thị Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2020/HNGĐ-ST Ngày: 18/9/2020 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Thanh
Ông Trần Tá
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 184/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu H, sinh ngày: 04/5/1992; Nơi cư trú: Thôn LĐ, xã A, huyện L, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Tuấn M, sinh ngày: 10/10/1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố TL, phường T, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/7/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đặng Thị Thu H trình bày: Chị và anh Trần Tuấn M tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, chung sống với nhau từ năm 2014; đến ngày 04/5/2016 được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố R cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau; vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay. Từ khi chị chuyển về nhà ngoại sống, vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và vợ chồng không còn tình cảm. Vì vậy, chị yêu cầu được ly hôn với anh M.
- Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung Trần Phú Q, sinh ngày: 06/01/2015. Chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị và anh M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Tuấn M có mặt tại địa phương, đã được Tòa án tiến hành đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng dân sự nhưng anh M cố tình vắng mặt, không đến Tòa để cung cấp lời khai cũng như tham gia vào các phiên hòa giải, xét xử.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố R:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị H. Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn anh M; về con chung: Giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, anh M không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm “Ly hôn”.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Trích lục kết hôn số 261/TLKH-BS ngày 13/6/2018; Trích lục khai sinh Trần Phú Q (bản sao); Sổ hộ khẩu chủ hộ Đặng Văn P (bản sao); Giấy chứng minh nhân dân chị H (bản sao); Biên bản xác minh ngày 24/7/2020.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình mà bị đơn có nơi cư trú tại thành phố R nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Đặng Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Tuấn M. Căn cứ vào nội dung vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Ngày 27/8/2020, nguyên đơn chị H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu của chị H là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn anh M nhưng anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh M.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh M tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và được được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố R cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 04/5/2016 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc. Do anh chị bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cãi vã và không còn chung sống từ năm 2017 đến nay. Bản thân chị H không còn tình cảm với anh M, yêu cầu được ly hôn với anh M. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh M đến Tòa để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải nhưng anh M không chấp hành, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc cuộc sống hôn nhân của anh chị. Tại Biên bản xác minh ngày 24/7/2020, chính quyền địa phương cung cấp: “Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Đặng Thị Thu H và anh Trần Tuấn M địa phương không nắm được; do chị H, anh M có mâu thuẫn, gia đình như thế nào không nhờ địa phương can thiệp, hòa giải nên địa phương không biết.”. Xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng vợ chồng anh chị đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị H yêu cầu được ly hôn với anh M là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của Chị H.
Về con chung: Chị H và anh M có 01 con chung Trần Phú Q, sinh ngày: 06/01/2015. Chị yêu cầu được nuôi con chung. Xét: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn là nhằm phát triển tốt cho con cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Cháu Q còn nhỏ và hiện đang sống cùng với mẹ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, cần tiếp tục giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Đặng Thị Thu H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu H được ly hôn anh Trần Tuấn M.
2. Về con chung:
Chị Đặng Thị Thu H được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Trần Phú Q, sinh ngày: 06/01/2015.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đặng Thị Thu H về việc không yêu cầu anh Trần Tuấn M cấp dưỡng nuôi con chung.
* Vì lợi ích của con, hai bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Thu H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0000743 ngày 09/7/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R. Chị H đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Chị Đặng Thị Thu H, anh Trần Tuấn M có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND t.p R; - CCTHADS t.p R; - UBND phường T, t.p R, tỉnh Khánh Hòa; - Các đương sự; - Lưu án văn. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |