vanban.org

Bản án 57/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đàm Hồng Kiều T và ông Phạm Thành L.

Về con chung: giao con chung là cháu Phạm Uyên T sinh ngày 23/01/2009 cho bà Đàm Hồng Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn T-L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đàm Hồng Kiều T và ông Phạm Thành L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 57/2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 27/8/2020
V/v “Ly hôn giữa bà T và ông L”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hưng

2. Bà Trần Thị Kim Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chiến Trực – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An- Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đàm Hồng Kiều T, sinh năm: 1990;

Địa chỉ: ấp C, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Ông Phạm Thành L, sinh năm: 1986;

Địa chỉ: khu phố M, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông L vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/6/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án bà Đàm Hồng Kiều T trình bày:

Bà và ông L kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/3/2009 do tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà và ông L đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng giữa bà và ông L không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.

Về con chung: có một con chung tên Phạm Uyên T sinh ngày 23/01/2009. Sau khi ly hôn bà T xin nuôi con và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- 1 -

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự để triệu tập ông Phạm Thành L tới Tòa án để lấy lời khai, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông Phạm Thành L không đến, do đó Tòa án không thể lấy lời khai của ông L cũng như không tiến hành hòa giải giữa nguyên đơn và bị đơn được

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đàm Hồng Kiều T đối với ông Phạm Thành L. Giao cháu Phạm Uyên T sinh ngày 23/01/2009 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: bà T khai không có nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Đàm Hồng Kiều T khởi kiện bị đơn ông Phạm Thành L. Quan hệ tranh chấp giữa bà Đàm Hồng Kiều T và ông Phạm Thành L là tranh chấp về ly hôn. Hiện nay, ông L đang cư trú tại khu phố M, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn bà Đàm Hồng Kiều T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Thành L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Đàm Hồng Kiều T và bị đơn ông Phạm Thành L.

Về nội dung: Bà T và ông L tự nguyện kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10 tháng 3 năm 2009 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà T, sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà và ông L đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Nay tình cảm của bà đối với ông L không còn nên bà cương quyết xin ly hôn với ông L. Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre đã mở phiên hòa giải nhiều lần để động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng của bà T và ông L nhưng ông L vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với bà T. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T

Về con chung: sau khi ly hôn bà Trang xin nuôi con chung là cháu Phạm Uyên T sinh ngày 23/01/2009 và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy,

- 2 -

trong thời gian bà Trang và ông L ly thân, cháu Phạm Uyên T do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, có cuộc sống, sinh hoạt ổn định. Tại biên bản hỏi ý con trong vụ án hôn nhân gia đình ngày 09/7/2020, cháu T cũng có nguyện vọng sống chung với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Uyên T cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đồng bà T phải chịu, theo quy định của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đàm Hồng Kiều T và ông Phạm Thành L.

2. Về con chung: giao con chung là cháu Phạm Uyên T sinh ngày 23/01/2009 cho bà Đàm Hồng Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết

4. Về án phí: Bà Trang phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011910 ngày 29 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án

- 3 -

theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ