- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L- Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03-5-2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/HS-ST Ngày 11-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Chinh;
Bà Trần Thị Phượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Th1 - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Quách Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/HSST-QĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1996; nơi sinh, nơi cư trú: Xóm Nam Ninh, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Long, sinh năm 1968 và bà Cao Thị Đ2, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-5-2019 đến ngày 12-5-2019 thì chuyển tạm giam cho đến nay. “có mặt”
- Bị hại:
+ Anh Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Tổ dân phố số 13, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Xóm Xuân Lập, xã HX, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Xóm Sơn Đông, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
+Anh Mai Văn Tr1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Xóm Tây Sơn, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Ông Nguyễn Thế Qu, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Tổ dân phố số 13, thị trấn TL, huyện HH, tỉnh Nam Định. (có mặt)
+ Bà Cao Thị Đ2, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Xóm Nam Ninh, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (có mặt)
+ Anh Cao Văn Th, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Tổ dân phố số 5, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định. (có mặt)
+ Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Xóm 9, xã HC1, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Đỗ Phi Ph, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Xóm 3, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm 2, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Xóm Sơn Đông, xã Hải HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Phạm Văn L2, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm Xuân Đài Đông, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm Sơn Đông, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Xóm Sơn Đông, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Anh Trần Văn T1, sinh ngày 18-9-2001. Nơi cư trú: Xóm Việt An, xã HTR, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
+ Chị Phạm Thị Th1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Xóm Sơn Đông, xã HC, huyện HH, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21giờ 40 phút ngày 02/5/2019, do mâu thuẫ n vớ i 03 nam thanh niên lạ mặt điều khiển xe SH màu đen nên Nguyễn Văn Tr đã gọ i điệ n cho Nguyễ n Văn L nói “tao vừa bị 03 thằ ng đi SH le đá nh, mày giúp tao vụ này”. L hiể u ý củ a Tr là đi tìm nhóm thanh niên trên để đánh trả thù nên đồng ý . L cho vào tú i quầ n bên phả i 01 chiế c dao bằng kim loại dạ ng bấ m gấ p , dài 18cm, lưỡ i dao dà i 07cm, cán dao dài 11cm, có hình đầu rồng ở cuối cán , dao có công cụ bậ t lử a rồi điề u khiể n xe mô tô biể n kiể m soát 18P3 – 3574 đến gặp Tr, Tr mang theo 01 đoạ n gậ y gỗ dà i khoả ng 01m, đườ ng kí nh 05cm. Sau đó, L điề u khiể n xe chở Tr đến khu vự c chợ đậ p xã Hả i Xuân thì gặ p nhó m thanh niên gồ m Cao Văn Th , Nguyễ n Thế Đ đang ăn ố c ở quán ven đườ ng . Giữa L và Th xảy ra xích mích, L nói với Th là “mà y thí ch gì xuố ng chợ Đậ p” rồ i điề u khiể n xe đi hướ ng về phí a chợ Đậ p, xã Hải Xuân, còn Thđiề u khiể n xe mô tô biể n kiể m soát 18P3 – 6754 đuổ i theo. L hỏi Tr có dừng lại không thì T r nói là “thôi đi đi , tao nhì n nó quen quen” . Th đuổi theo được một đoạn thì dừng lại. Sau đó , L và Tr đến xóm Tây Sơn, xã Hải Chính gặp và rủ Mai Văn Tr1đi tì m nhó m thanh niên điề u khiể n xe SH thì Tr 1 đồ ng ý . Tr bẻ ngắn bớt đoạ n gậ y gỗ cò n 66cm, rồ i L điề u khiể n xe chở Tr và Tr 1 đi được khoảng 200m thì dừng lại để Tr điện thoại rủ thêm bạn là Nguyễn Văn L1 đi cùng nhưng L1 không đi. Lúc này, L bỏ con dao bấ m ra bậ t lử a hú t thuố c thì Tr1 có hỏi “mang dao đi để là m gì ”, L1 trả lời “có gì để tao còn xử lý”. Thấ y vậ y, Tr1 và Tr1 nói “đừng dùng dao, nếu bí quá thì chỉ dùng chém thôi , chứ đừng có đâm, thương tích sẽ nặng” thì L không nó i gì. Sau đó, cả ba tiếp tục đi tìm nhóm thanh niên đi xe SH. Khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, L, Tr, Tr1 đi đến khu vự c ngã 3 đê biể n thuộ c xó m Nam Ninh , xã Hải Chính thì thấy 1 nhóm thanh niên gồm Th, Đ1, Phạm Văn Đ2, Nguyễ n Văn C cùng với một số người bạn đang đứng nói chuyện . L điều khiển xe rẽ phải đi hướng xã Hải Triều , đi cách ngã 3 khoảng 150m thì dừng lại. Thấ y vậ y, nhóm của Th, Đ, Đ1, C đi đế n chỗ L, Tr và Tr1. Khi đế n gần, C hô to “đú ng bọ n ở quá n ố c đây rồ i” , thì L nói “hiểu lầm , em xin lỗ i cá c anh thông cả m cho em”, cùng lúc đó Tr nói “thôi có gì lúc nãy bọn em ở quán ốc có gì không phải bỏ qua cho bọn em”. Nhưng Đ1 và Đ vẫn lao vào dùng tay đánh L, L lùi lại lấy chiếc dao trong túi, bật lưỡi dao ra vung một cái từ phải qua trái và o vùng sườn trái của Đ và đâm một cái vào bụng củ a Đ rồ i bỏ chạ y. Khi thấ y L bỏ chạy, Trvà Tr1 cũng bỏ chạy để lại xe mô tô biển kiểm soát 18P3 – 3574 và 01 đoạ n gậ y gỗ dà i 66cm, đườ ng kí nh 05cm. Đến ngày 03-5-2019, Nguyễ n Văn Lđến Cơ quan điề u tra Công an huyện Hải Hậu đầ u thú và giao nộ p chiế c dao mà L gây thương tí ch cho anh Đ và anh Đ1.
Hậ u quả : Anh Nguyễ n Thế Đ1 bị thương thấu bụng vùng thượng vị dài 5cm, rách tĩnh mạch chủ bụng , rách dạ dày, rách ruột non, túi mật, niệ u quả n đượ c đưa đi cấ p cứ u và điều trị tạ i Bệ nh việ n đa khoa tỉ nh Nam Đị nh từ ngày 02-5-2019 đến ngày 15-5-2019 thì xuất viện; Phạm Văn Đ1 bị một vết thương rách da kích thước (1 x 2)cm vù ng lưng bên trá i tương đương khoả ng khoang liên sườ n 4, 5 và 1 vết thương mặ t sau khuỷ u tay phả i dài 6cm đượ c đưa đế n Bệ nh việ n đa khoa tỉ nh Nam Đị nh khâu vế t thương sau đó đã tự ý bỏ về nhà . (Bút lục số: 7- 9, 38 – 66, 67 – 87, 90 - 185).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 101/19/TgT ngà y 13-6-2019 của Trung tâm pháp y tỉnh N am Đị nh kế t luậ n : Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tí ch gây nên hiệ n tạ i củ a anh Nguyễ n Thế Đ 1 là 55%; cơ chế hì nh thà nh vế t thương: Vậ t cứ ng, nhọn, có cạnh sắc tác động gây thương tích.
Cáo trạng số 54/CT-VKSHH ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hả i Hậ u thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 5 năm tù đến 5 năm 06 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ như: Bản kết luận giám định thương tích, bệnh án của bị hại, biên bản hỏi cung của bị cáo; lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; biên bản thu giữ và trao trả vật chứng và các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 02-5-2019, tại khu vực đê biển thuộc x óm Nam Ninh, xã Hải Chính, huyệ n Hả i Hậ u, giữa Nguyễ n Văn Lượ ng và anh Nguyễn Thế Đ, Phạm Văn Đ1xảy ra xô xát, L đã dùng dao bằng kim loại đâm vào vùng bụng của anh Nguyễn Thế Đoàn gây thương tí ch vớ i tỷ lệ tổ n thương cơ thể là 55%. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, như đề như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố là có căn cứ.
Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội,trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, đây là quyền bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan Công an, đồng thời bị cáo đã tự nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Nguyễn Thế Đ và được anh Đ có lời khai xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy nên áp dụng hình phạt thấp của khung hình phạt cũng đảm bảo được tính răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung và phù hợp pháp luật.
Về trách nhiêm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Thế Đ số tiền 70.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền bối thường, anh Đ không còn yêu cầu về trách nhiệm bồi thường dân sự nên về trách nhiệm dân sự HĐXX không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Chiế c xe mô tô biể n kiể m soá t 18P3 – 3574 và điệ n thoại di động Nokia 105 mà Lđiề u khiể n và sử dụ ng liên lạ c vớ i Nguyễ n Văn Tr để đi đánh nhau là tài sản hợ p phá p của bà Cao Thị Đ 2 là mẹ đẻ của L . Bà Đ2 không biế t L sử dụ ng chiế c xe, điệ n thoạ i đi độ ng và o việ c vi phạ m phá p luậ t nên Cơ quan điề u tra trả lạ i cho bà Đ2 là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệ u Itel thu giữ củ a Nguyễ n Văn Tr . Xét thấy Tr sử dụ ng để rủ Nguyễ n Văn L và Mai Văn Tr1 để đi đánh nhau cần tịch thu sung quỹ Nhà nướ c.
Chiế c dao kim loạ i mà L 1 dùng để gây thương tích cho Đ 1, Đ1và chiế c gậ y gỗ mà Triể n mang đi mụ c đí ch để đá nh nhau cầ n tị ch thu tiêu hủ y.
Đối với anh Phạm Văn Đ 1, Cơ quan điề u tra đã nhiều lần triệ u tập nhưng anh Đạ t không đến làm việc và không có mặ t tạ i đị a Ph. Đạ i diệ n gia đì nh anh Đ1có đơn từ chố i giá m đị nh thương tí ch và không có đề nghị gì về mặ t dân sự nên Cơ quan điề u tra đã tá ch tà i liệ u để xá c minh xử lý sau là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03-5-2019.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 dao kim loại; 01 đoạn gậy gỗ.
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại ITel.
(Vật chứng nêu trên được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 18-9-2019)
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống Đ1bản án hợp lệ.
Trong Tr1 hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Hải Hậu; - Chi cục THADS huyện; - THA phạt tù; - Bị cáo; - CQ Điều tra CA huyện Hải Hậu; - Sở tư pháp; - Nhà tạm giữ CA huyện Hải Hậu; - VP Công an huyện Hải Hậu ; - UBND xã Hải Chính; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |