- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc L - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc L; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 18/2019/HS-ST ngày 19/02/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố C.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/HS-PT Ngày 26 - 4 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Lê Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 47/2019/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo Trần Quốc L; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2019/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Quốc L, sinh năm 1996; thường trú: Khóm 4, phường T, Thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Khóm 4, phường T, Thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn S và bà: Nguyễn Thị P; vợ: Nguyễn Như Y; con: 01 người; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 120 ngày 23/5/2014, bị Tòa án nhân dân Thành phố C xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thử thách 01 năm, chấp hành xong bản án, đã xóa án tích; bị cáo tại ngoại có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
Bị hại: Trần Minh T, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Số 115, đường K, khóm 1, phường 6, Thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/8/2018, Trần Quốc L mua 06 tờ vé số đài Bình Thuận, loại 8K2, mở thưởng ngày 09/8/2018, trong đó có 02 tờ có dãy số 165617. Chiều cùng ngày đài Bình Thuận xổ số giải nhất là dãy số 165017. So với vé số của Trần Quốc L mua sai 01 chữ số ở hàng trăm. Trần Quốc L nãy sinh ý định sửa số từ sai thành trúng để lãnh tiền nên dùng dao cắt chữ số 0 từ vé số khác dán vào vị trí chữ số 6 trên hai tờ vé số của Lel ở dãy số in lớn nhất tạo thành vé số trúng thưởng dãy số 165017.
Ngày 11/8/2018, Trần Quốc L nói với Nguyễn Chí C có 02 tờ vé số trúng thưởng giải nhất 30.000.000đ, rủ đi đổi thưởng. Nguyễn Chí C điều khiển xe 69HB-0736 chở Trần Quốc L đến đại lý vé số Minh Chiêu khóm 1, phường 6, Thành phố C đổi thưởng. Trần Quốc L đưa 02 tờ vé số cho Nguyễn Chí C vào gặp ông Trần Minh T đổi được số tiền 55.400.000 đồng. Trần Quốc L cho Nguyễn Chí C 2.700.000 đồng, số còn lại Trần Quốc L tiêu xài cá nhân.
Ngày 16/8/2018, ông Trần Minh T lấy vé số của Trần Quốc L đổi thưởng đem đổi lại cho Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Bình Thuận phát hiện 02 vé số đã bị sửa số nên trình báo sự việc với Công an phường 6, Thành phố C.
Tại kết luận giám định số 108/GĐ-2018 ngày 29/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Hai tờ vé số đài Bình Thuận loại 8K2, thứ năm ngày 09/9/2018 có dãy số K 165017K và L 165017L, trên hai tờ vé số đài Bình Thận loại 8K2, thứ năm ngày 09/8/2018 ký hiệu A1, A2 bị cắt ghép tại vị trí số “0” (vị trí hàng trăm) của dãy số “K 165017K” và “L 165017L” trên hai tờ vé số đài Bình Thuận loại 8K2, thứ năm ngày 09/8/2018 (ký hiệu A1, A2).
Quá trình điều tra, Trần Quốc L thừa nhận hành vi phạm tội, đã nộp trả đủ số tiền chiếm đoạt cho bị hại.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2019/HS-ST ngày 19/02/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố C; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Quốc L 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05/3/2019, bị cáo Trần Quốc L có đơn kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Quốc L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của Trần Quốc L, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 18/2019/HS-ST ngày 19/02/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc L khai nhận ngày 09/8/2018, bị cáo đã thực hiện hành vi cắt dán chữ số “0” vào vị trí chữ số “6” trên hai tờ vé số đài Bình Thuận mở thưởng ngày 09/8/2018 để từ vé số không trúng có dãy số “165617” thành vé số trúng thưởng giải nhất trị giá 30.00.000 đồng có dãy số “165017”. Ngày 11/8/2018, Trần Quốc L đem hai tờ vé số đã sửa số đến ông Trần Minh T đổi thưởng được 55.400.000 đồng chiếm đoạt chi xài cá nhân. [2] Hành vi của Trần Quốc L sửa số từ không trúng thành trúng thưởng, gian dối, qua mắt chủ đại lý đổi lấy tiền thưởng, chiếm đoạt chi xài cá nhân là vi phạm pháp luật hình sự, chiếm đoạt trái phép tài sản người khác có giá trị 55.400.000 đồng. Án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố C xử phạt bị cáo Trần Quốc L 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, tương xứng với tính chất vụ án và mức độ phạm tội của bị cáo.
Xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Quốc L thấy rằng: Các tình tiết giảm nhẹ bị cáo nêu tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm như có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục bồi thường xong cho bị hại, bị cáo có bà nội già, vợ và con nhỏ đã được án sơ thẩm xem xét đầy đủ khi áp dụng hình phạt 02 năm tù đối với bị cáo. Đồng thời do bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có lần bị xét xử, được hưởng án treo, nhưng lại tiếp tục phạm tội, do đó bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Cần phải áp dụng hình phạt nghiêm là hình phạt tù mới đủ để răn đe, nghiêm trị bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm đã xử đối với bị cáo Trần Quốc L.
Do kháng cáo không được chấp nhận, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc L; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 18/2019/HS-ST ngày 19/02/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố C.
2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Quốc L 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Trần Quốc L phải chịu 200.000 đồng.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Công an Thành phố C; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố C; - Tòa án nhân dân Thành phố C; - Chi cục THADS Thành phố C; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Trọng Nhân |