- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh H và chị H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Lê Thị H (tên gọi khác Lê Thị K).
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 10 - 2019 V/v ly hôn giữa anh H và chị H |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Xuân Tiến. 2. Bà Bùi Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nguyệt, kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019 về việc "ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Xóm 5, xã S, huyện T, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Chị Lê Thị H (tên gọi khác Lê Thị K), sinh năm 1974;
Địa chỉ: Xóm 5, xã S, huyện T, tỉnh Nam Định.
( Tại phiên tòa có mặt anh Phạm Văn H, vắng mặt chị Lê Thị H)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 7 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị H kết hôn tự nguyện, đăng ký tại trụ sở UBND xã S, huyện T, tỉnh Nam Định vào tháng 12/1991. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2013 thì chị H đi làm ăn tự do trên Tp Hà Nội, thường xuyên không có mặt ở nhà, không quan tâm đến gia đình, không chung thủy với anh, anh đã khuyên bảo động viên nhiều lần nhưng không có kết quả.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị xin được ly hôn chị H.
Về nuôi con chung: Anh và chị H có hai con chung là Phạm Quang L, sinh ngày 05/02/1993 và Phạm Quang A, sinh ngày 25/7/2001. Hiện nay các con chung đã trưởng thành, tự lập, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập các tài liệu có trong hồ sơ vụ án của Thẩm phán và hoạt động tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
+ Đề nghị xử ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Lê Thị H.
+ Về án phí: Anh Phạm Văn H phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Lê Thị H.
Về hôn nhân: Anh Phạm Văn H và chị Lê Thị H kết hôn đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã S vào tháng 12/1991 có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H nghi ngờ lòng chung thủy của chị H, chị H thường xuyên đi làm ăn xa vắng nhà từ đó tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của anh H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc nuôi con chung: Anh H và chị H có 02 con chung. Hiện nay các con chung đã trưởng thành tự lập nên Tòa án không xem xét giải quyết việc trực tiếp nuôi dưỡng các con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Anh H và chị H không có yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. Việc giải quyết chia tài sản, công nợ chung của anh H và chị H sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác nếu anh H, chị H có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Anh H phải phải nộp án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Lê Thị H (tên gọi khác Lê Thị K).
2. Về án phí : Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh H đã nộp theo Biên lai số 0000951 ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lê Thị H có quyền kháng cáo cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -Các đương sự; -TAND tỉnh: 01 bản; - VKSND huyện, tỉnh: 02 bản; -THADS huyện: 01 bản; - UBND xã S; -Lưu HS: 01 bản; -Lưu VP: 01 bản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Nguyễn Văn Thịnh |