- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Đ anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Đ được ly hôn anh Lê Trọng T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2019/HNGĐ- ST Ngày: 09- 10- 2019 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bể
2. Ông Tạ Văn Tấn
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lân - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2019/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1976 Đăng ký HKTT: Thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình Hiện ở địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình
2. Bị đơn: Anh Lê Trọng T, sinh năm 1973 Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình
(Tại phiên tòa có mặt chị Đ. Anh T xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Đ trình bày: Chị kết hôn với anh Lê Trọng T do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/5/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn, anh T không tu chí làm ăn, thường xuyên uống rượu về đánh chửi vợ. Chị đã về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ chị từ tháng 4 năm 2017 và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh T.
Chị và anh T có 01 con chung là Lê Trần Trọng S, sinh ngày 23/02/2016. Hiện con chung đang ở với chị. Sau khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T phải góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị Đ khai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.
Bị đơn là anh Lê Trọng T trong biên bản lấy lời khai anh T đã xác nhận về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn đúng như chị Đ trình bày. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra cãi vã đời thường; gia đình chị Đ không muốn chị Đ sinh sống cùng gia đình anh và bắt anh sang bên gia đình chị Đ sinh sống nhưng anh không chấp nhận. Chị Đ đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị Đ từ năm 2017 cho đến nay. Anh T không muốn ly hôn nhưng nếu chị Đ cương quyết ly hôn thì anh chấp nhận. Anh và chị Đ có 01 con chung như chị Đ đã khai. Nếu chị Đ cương quyết ly hôn thì anh xin được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Anh và chị Đ không có tài sản chung, không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; về quan hệ hôn nhân cần xử cho chị Đ được ly hôn anh T; về quan hệ con chung cần xử giao con chung là Lê Trần Trọng S cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không yêu cầu anh T phải góp cấp dưỡng nuôi con chung; về quan hệ tài sản không đặt ra giải quyết. Chị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Đ và anh Lê Trọng T xây dựng trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Cộng Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đăng ký kết hôn vào ngày 28/5/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2017 cho đến nay nhưng vẫn không có giải pháp nào để đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa chị Đ và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đ, xử cho chị Đ được ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét yêu cầu xin được nuôi dưỡng con chung của chị Đ và anh T, thấy: Nguyện vọng nuôi dưỡng con chung của chị Đ và anh T đều chính đáng. Tuy nhiên, con chung hiện còn nhỏ và đang sinh sống ổn định cùng chị Đ; bản thân anh T thường xuyên đi làm ăn xa. Cần giao con chung cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng theo yêu cầu của chị Đ là phù hợp.
Về quan hệ tài sản: Chị Đ và anh T đều không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.
Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Đ được ly hôn anh Lê Trọng T.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Trần Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Trần Trọng S, sinh ngày 23/02/2016. Chị Đ không yêu cầu anh T phải góp cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005703 ngày 02/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Trọng T có quyền kháng cáo trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn tèng ®¹t hoÆc niªm yÕt hîp lÖ b¶n ¸n.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hưng Hà, - Các đương sự, - Chi cục THA dân sự H.Hưng Hà, - UBND xã Cộng Hòa, H. Hưng Hà, - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Hùng |