- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI – NGHỆ AN Bản án số : 57/ 2018/HSST Ngày : 30/ 8/ 2018 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI - NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Quang Tình
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Hương
Bà Phan Thị Hòe
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.
- Đại diện VKSND thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương; chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại hội trường TAND thị xã Hoàng Mai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2018/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2018 đối với:
Bị cáo: Vũ Thanh B; Sinh ngày 25 tháng 9 năm 1975
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 9, xã C, huyện K, tỉnh Ninh B.
Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12
Con ông: Vũ Hữu Tr; Con bà: Bùi Thị Huyền.
Vợ: Nguyễn Thị Thanh H; Có 3 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 09/6/2018 đến ngày 15/6/2018 cho bảo lĩnh có mặt tại phiên tòa
Người bị hại: Anh Đậu Đức T, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Trú tại: Xóm Q xã Quỳnh B, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Ngọc D, sinh 1988 (vắng mặt).
Trú tại: Khối T, phường Q, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
NHẬN THẤY
Bị cáo Vũ Thanh B bị VKSND thị xã Hoàng Mai truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/6/2018 tại khu vực đường số 3 thuộc phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xẩy ra va chạm giao thông giữa xe ô tô tải hiệu KENBO do anh Đậu Đức T điều khiển với xe ô tô FOTUNER do anh Vũ Hải Đ điều khiển chở Vũ Thanh B và một số người khác. Trong lúc anh Đậu Đức T và anh Vũ Hải Đ đang dừng xe thỏa thuận giải quyết bồi thường thiệt hại thì Vũ Thanh B đứng ở phía cửa bên phải xe ô tô tải của anh Thành đang mở, thấy trên ghế phụ có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám bạc. B liền lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần của mình rồi lên xe ô tô FOTUNER của anh Vũ Hải Đ ngồi. Sau khi giải quyết xong, anh Vũ Hải Đ cùng bị cáo đi xe ô tô đến quán Vượng Giang ở phường Q, thị xã Hoàng Mai để ăn trưa.Lúc này Vũ Thanh B lấy điện thoại di động vừa trộm ra thay sim điện thoại của mình vào nhưng bị khóa máy không sử dụng được. Trong lúc đó, anh Đậu Đức T phát hiện bị mất điện thoại di động nên đã tìm qua hệ thống định vị phát hiện vị trí chiếc điện thoại đi động Iphone 6S của mình đang ở khu vực có B cùng một số người khác đang ngồi tại nhà hàng Vượng Giang, phường Q, thị xã Hoàng Mai, liền báo cho cơ quan Công an phường Q đến giải quyết. Vũ Thanh B biết không thể trốn tránh nên đã đầu thú và giao nộp lại chiếc điện thoại di động đã trộm cắp được. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, được định giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) đã trả lại cho anh Đậu Đức T.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai số 58 ngày 13 tháng 8 năm 2018 đã truy tố bị cáo Vũ Thanh B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Đậu Đức T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường đề nghị gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thanh B đã khai nhận diễn biến toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố, phân tích đánh giá tính chất vụ án, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 điểm b, i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 36 BLHS.
Xử phạt: Vũ Thanh B từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập của bị cáo mỗi tháng từ 500.000đ đến 800.000đ trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung công quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Đậu Đức T đã nhận lại tài sản bị mất nay không yêu cầu đề nghị gì thêm nên không xét.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trình tự thủ tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có khiếu nại hoặc ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đối chiếu lời khai của bị cáo với lời khai của người bị hại, tang vật chứng thu được và các tài liệu có tại hồ sơ là hoàn toàn phù hợp về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị cáo chiếm đoạt. Có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/6/2018, tại khu vực đường số 3 thuộc phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, bị cáo Vũ Thanh B đã có hành vi lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt của Đậu Đức T một chiếc điện thoại di động Iphone 6S có trị giá 4.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Thanh B có đủ căn cứ kết luận phạm tội : “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1điều 173 BLHS như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã nêu là đúng pháp luật.
Vụ án ít nghiêm trọng nhưng hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân nên cần xử lý nhiêm.
Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo, nhân thân từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự, nhất thời phạm tội. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết gảm nhẹ là sau khi biết sự việc bị phát hiện đã ra đầu thú, giao nộp lại tài sản trả cho người bị hại, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn được quy định tại điểm b, h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ngoài xã hội, chỉ cần xử phạt cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập bị cáo để sung công quỹ Nhà nước mức như Kiểm sát Viên đã đề nghị tại phiên tòa cũng đủ điều kiện để cải tạo giáo dục các bị cáo. Trừ cho bị cáo 6 (sáu) ngày bị tạm giữ bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Đậu Đức T đã nhận lại tài sản bị mất, nay không ai yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không xét.
Về án phí: Bị cáo B phải nạp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) hình sự sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ : Khoản 1 điều 173, điểm b, h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 36 BLHS.
Xử phạt: Vũ Thanh B 9 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo B tính từ ngày UBND xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh B nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án nhưng được trừ 6 (sáu) ngày bị tạm giữ bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập của bị cáo Vũ Thanh B trong thời gian cải tạo không giam giữ mỗi tháng 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Giao các bị cáo Vũ Thanh B cho chính quyền địa phương UBND xã Cồn Thoi huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh B, nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS .
Bị cáo Vũ Thanh B phải nạp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn nói trên kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận; - VKS. HM - THA. HM - Bị cáo, bị hại, - Lưu HS – VP | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lý Quang Tình |