- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Quốc Tuấn E, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2018/HSST Ngày: 09-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hải.
2. Bà Bùi Thị Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ong Thị Ngọc Tâm là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2018/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Dương Quốc Tuấn E, Sinh năm 1977, tại Đồng Tháp.
- Quê quán: Ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Nơi thường trú: Ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
- Trình độ học vấn: 5/12.
- Nghề nghiệp: Không.
- Cha: Dương Văn T và mẹ: Trần Thị B.
- Gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình.
- Vợ: Nguyễn Thị Bích L.
- Con: Dương Chí C.
- Tiền sự 02 lần:
+ Ngày 16/11/2017, bị Công an xã M, thành phố C phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. (Đã nộp phạt xong)
+ Ngày 10/5/2018, bị Công an xã T, huyện C, phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. (Đã nộp phạt xong)
- Tiền án: Không.
- Nhân thân:
+ Ngày 24/11/1995, bị Toà án nhân dân thị xã Cao Lãnh xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/1996.
+ Ngày 24/06/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 04 năm tù, về tội “Giao cấu với trẻ em”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/8/2012.
+ Ngày 08/4/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2015, nộp án phí vào ngày 21/05/2014 (Đã xóa án tích).
- Bắt tạm giam ngày 13/7/2018.
- Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Ông Nguyễn Hòa B, sinh năm 1964; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Chí C, sinh năm 1999; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 3, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Anh Huỳnh Hải H, sinh năm 1973; (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, ấp 3, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 24/06/2018, Dương Quốc Tuấn E điều khiển xe mô tô biển số 66F1- 401.52 (xe do Dương Chí C là con ruột của bị cáo đứng tên chủ sở hữu) chạy từ Phường M, thành phố C hướng về xã M, thành phố C để tìm tài sản lấy trộm.
Khi đến trước nhà anh Huỳnh Hải H, sinh năm 1973, ngụ tổ 1, ấp B, xã M, thành phố C, bị cáo thấy nhà có đám cưới nên dừng xe lại quan sát thấy mọi người trong nhà đã ngủ say nên nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong nhà lấy trộm tài sản. Bị cáo đậu xe mô tô cách nhà anh H khoảng 20 mét, lén lút leo qua hàng rào đi vào bên trong nhà. Lúc này, thấy anh Nguyễn Hòa B, sinh năm 1964, ngụ tại ấp 1, xã T, huyện T là khách đi đám cưới đang nằm ngủ bên hông nhà, bị cáo đi lại giở mùng phát hiện 01 điện thoại di động hiệu SamSung J7 Pro màu đen của anh B để ở cạnh vách mùng phía ngoài nên dùng tay phải lấy điện thoại bỏ vào túi quần, thì bị anh Huỳnh Hải H là chủ nhà phát hiện, truy hô cùng mọi người bắt giữ, đồng thời trình báo Công an xã M, thành phố C đến lập biên bản phạm tội quả tang cùng với tang vật là 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J7 Pro màu đen của anh B.
Ngoài ra, Công an còn tạm giữ của bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 66F1-401.52; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 215 màu đen; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66F1- 401.52 tên Dương Chí C; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66H1-100.33; 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Dương Quốc Tuấn E và tiền Việt Nam là 3.728.000 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 136 ngày 27/06/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J7 Pro, kiểu máy SM-J730G/DS, số Seri: R58JA63VEA trị giá 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra Công an thành phố C tiến hành trao trả lại cho anh Nguyễn Hòa B 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J7 Pro số Seri: R58JA63VEA, sau khi nhận lại tài sản anh B không yêu cầu gì thêm.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 66F1-401.52, bị cáo sử dụng đi trộm là của Dương Chí C là con của bị cáo, anh C cho bị cáo mượn, anh C không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi trộm nên Cơ quan điều tra Công an thành phố C đã trả cho anh C cùng với giấy đăng ký xe.
Đối với những tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ trộm gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 215 màu đen; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66H1-100.33; 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Dương Quốc Tuấn E, Cơ quan điều tra Công an thành phố C trả lại cho Dương Chí C là con ruột của Tuấn E nhận thay.
Trong quá trình điều tra bị cáo Dương Quốc Tuấn E đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Bản Cáo trạng số 69/CT-VKS-TPCL ngày 13 tháng 9 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Dương Quốc Tuấn E, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Quốc Tuấn E từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 13/7/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét;
Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho bị cáo số tiền 3.728.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Quốc Tuấn E đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, cùng tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Khoảng 02 giờ ngày 24/06/2018, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 66F1- 401.52 tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến trước nhà anh Huỳnh Hải H, quan sát thấy mọi người trong nhà đã ngủ say nên bị cáo đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu SamSung J7 Pro màu đen của ông Nguyễn Hòa B thì bị bắt quả tang. Theo kết quả định giá của cơ quan chuyên môn, tài sản bị cáo trộm trị giá 3.000.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo từng 03 lần bị kết án về hành vi giao cấu với trẻ em và trộm cắp tài sản, 02 tiền sự về hành vi đánh bạc và trộm cắp tài sản. Sau những lần chấp hành án, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, lẽ ra bị cáo phải biết ăn năn hối cải, sửa chữa lỗi lầm, làm lại cuộc đời nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ sự xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Tình tiết tăng nặng: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: Các vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho bị hại và chủ sở hữu có liên quan, không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với vật chứng đang tạm giữ là 01 phong bì có đóng dấu của Công an xã M, thành phố C (bên trong có 3.728.000 đồng). Nhận thấy, số tiền đang bị tạm giữ không xác định được đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, nên Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Quốc Tuấn E, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Dương Quốc Tuấn E 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 13/7/2018).
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả cho bị cáo Dương Quốc Tuấn E số tiền 3.728.000 đồng, được niêm phong trong 01 phong bì có đóng dấu của Công an xã M, thành phố C.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Quốc Tuấn E phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND TP. Cao Lãnh; - Cơ quan điều tra CA TP. Cao Lãnh; - Nhà tạm giữ CA TP. Cao Lãnh; - Cơ quan THAHS CA TP. Cao Lãnh; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỤ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Trà |