- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với anh Trần Xuân S.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình xử giao chị Nguyệt trực tiếp chăm sóc con chung và anh S; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình xử giao chị Nguyệt trực tiếp chăm sóc con chung và anh S; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao chị Nguyệt trực tiếp chăm sóc con chung và anh S
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 57/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31/10/2018 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Đinh Lâm Xướng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Đinh Minh Tặng
2. Ông: Đinh Quốc Hội
Thư ký phiên toà: Ông: Trương Quốc Hoàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Tô Hoài – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2018/TLST – HNGĐ ngày 12/9/2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 572/2018/QĐST- HNGĐ ngày 15/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Minh Hoá giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh N
Trú tại: Thôn Đặng H, xã Hóa S, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình – vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Xuân S
Trú tại: Thôn Đặng H, xã Hóa S, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình- vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn ngày 08/9/2018, bản tự khai ngày 08/9/2018 của nguyên đơn Nguyễn Thị Ánh N trình bày giữa chị và anh Trần Xuân S đã đăng ký kết hôn ngày 19/01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Hóa S, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng thương yêu, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau và sinh được 01 con chung. Sau một thời gian phát sinh mâu thuẫn, sống không hợp nhau. Vì vậy chị N làm đơn ly hôn xin toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.
Con chung của vợ chồng: Chị N khai chị và anh S có với nhau 01 con chung tên là Trần Đăng K, sinh ngày 16/7/2011. Nguyên vọng của chị N là được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng.
Tài sản chung: Không có.
Về khoản vay chung: Không có
Ngày 08/9/2018 chị Nguyễn Thị Ánh Ncó đơn xin ly hôn vắng mặt vì lý do làm ăn xa nên không tham gia phiên tòa và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án như phần trình bày trên.
Về phía bị đơn anh Trần Xuân S trình bày tại đơn xin giải quyết ly hôn và xét xử vắng ngày 08/9/2018 như sau: Anh S đều nhất trí như ý kiến của chị N về quan hệ hôn nhân, về con chung và tài sản chung và các khoản vay chung và đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt với ly do làm ăn xa nên không có điều kiện để tham gia phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa trình bày quan điểm xét xử vụ án và việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử cho chị Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với anh Trần Xuân S và giao cháu Trần Đăng K, sinh ngày 16/7/2011 cho chị N nuôi dưỡng, anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi.
NHẬN ĐINH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Chị Nguyễn Thị Ánh N đã đăng ký kết hôn vào 19/11/2012 19/01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Hóa S, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên coi đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh, chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống không hợp nhau. Xét thấy mâu thuẫn của hai vợ chồng là rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho vợ chồng được ly hôn là đúng quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.Ngày 08/9/2018 chị N và anh S viết đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do điều kiện làm ăn xa, kinh tế khó khăn. Xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của chị chị N và anh S là hợp lệ và tự nguyên nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin xét xử vắng mặt của chị N và anh S.
[2]. Về con chung: Chị N và anh S thừa nhận anh chị có 01 con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày 16/7/2011. Xét thấy việc thỏa thuận người trực tiếp nuôi con chung được ghi nhận trong đơn xin xét xử vắng mặt là thực tế và đứng với nguyện vọng của chị N và S. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao chị Nguyệt trực tiếp chăm sóc con chung và anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng là thỏa đáng.
[3]. Xét thấy tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đưa ra quan điểm xét xử vụ án có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và anh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với anh Trần Xuân S.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ánh N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày 16/7/2011. Anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đ (Năm trăm ngàn đồng).Việc cấp dưỡng kể từ tháng 10 năm 2018.Hai bên có quyền qua lại chăm sóc con chung không ai được cản trở quyền này.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000 đ án phí dân sư về tranh chấp ly hôn. Nhưng được vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đ theo biên lai số: 0004054 ngày 12/9/2018 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, nay được khấu trừ. Anh S phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sở thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ
4. Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Minh H; - THADS huyện Minh H; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Các đương sự; - UBND Hóa S; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Lâm Xướng |