vanban.org

Bản án 57/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Lê Huyền T. Bà Huỳnh Lê Huyền T được ly hôn với ông Lê Phi B.

Về con chung: Bà Huỳnh Lê Huyền T được quyền trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên tên là Lê Phi C, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2007. Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Lê Huyền T- Lê Phi B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Lê Huyền T. Bà Huỳnh Lê Huyền T được ly hôn với ông Lê Phi B.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26- 10-2018
V/v tranh chấp yêu cầu ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Đoan Trang

Bà Dương Thị Được

- Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Ngọc Lệ- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2018/TLST-HNGĐ ngày 6 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2018/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Lê Huyền T- sinh năm: 1988

Địa chỉ: Tổ 12, ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu.(Có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Phi B- sinh năm: 1978

Địa chỉ: Tổ 12, ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Huỳnh Lê Huyền T trình bày:

Vào năm 2007, bà Huỳnh Lê Huyền T và ông Lê Phi B tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Đ, tỉnh BR-VT theo giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 16 tháng 3 năm 2007.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, ông B đam mê cờ bạc nên tiền thu nhập có được hàng ngày chỉ để phục vụ vào

- 1 -

những trò đỏ đen (đánh bài, đánh số đề) mà không quan tâm lo lắng gì cho gia đình. Từ đó, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau về vấn đề kinh tế. Bà T và gia đình đã nhiều lần khuyên nhưng ông B không thay đổi. Do vậy, mâu thuẫn ngày một trầm trọng và phải ly thân nhau từ tháng 02 năm 2017 đến nay.

Trong thời gian ly thân thì bà T và ông B mỗi người một nơi, hai người mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai và cũng không gặp nhau để bàn chuyện hàn gắn. Nay, bà T xác định tình cảm dành cho chồng không còn nữa đồng thời mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 người con chung là Lê Phi C, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2007. Từ thời điểm ly thân đến nay, con chung sống trực tiếp với bà T. Nay, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là ông Lê Phi B:

Trong quá trình Tòa án giải quyết đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng ông B không có mặt.

Tòa án đã xác minh chính quyền địa phương nơi ông B cư trú thì được biết hiện nay ông B vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại tổ 12, ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu tuy nhiên thường vắng nhà nên không lấy được ý kiến của ông B.

Đại diện VKS nhân dân huyện Đất Đỏ phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Đối với những người tham gia tố tụng thì bà T chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình; ông B không tham gia tố tụng là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vắng mặt ông B là đúng quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Lê Phi B có nơi cư trú tại huyện Đất Đỏ nên căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Bị đơn ông Lê Phi B đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở

- 2 -

ngại khách quan nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B.

Về nội dung:

Về yêu cầu ly hôn:

Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Lê Huyền T và ông Lê Phi B trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Đ theo giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 16 tháng 3 năm 2007. Do vậy, theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đủ cơ sở xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà T xác định vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, ông B đam mê cờ bạc, không quan tâm lo lắng cho cuộc sống gia đình. Từ đó, đời sống hôn nhân không hạnh phúc và hai người phải sống ly thân nhau từ tháng 02 năm 2017 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông B và bà T không gặp nhau để bàn chuyện hàn gắn. Nay, bà T xác định không thể quay về đoàn tụ và không còn yêu thương ông B nữa nên cương quyết yêu cầu ly hôn.

Qúa trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần mời hai bên đến hòa giải nhằm tạo điều kiện để họ quay về đoàn tụ. Tuy nhiên, ông B không đến, bỏ mặc bà T muốn làm gì thì làm điều đó thể hiện ông B không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân. Ngoài ra, căn cứ theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi hai vợ chồng sinh sống thì được biết hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn ngày một trầm trọng và phải sống ly thân nhau như bà T trình bày ở trên là đúng.

Từ những phân tích ở trên, xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 01 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T xác định vợ chồng có 01 người con chung là Lê Phi C, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2007. Từ khi ly thân đến nay, cháu C sống trực tiếp với bà T. Xét, con chung còn nhỏ, đang sống ổn định với bà T, cháu phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời theo nguyện vọng cháu mong muốn sống trực tiếp với mẹ nên tiếp tục giao cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà T không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không có yêu cầu; ông B cũng không có ý kiến hoặc yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Huỳnh Lê Huyền T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- 3 -

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Lê Huyền T. Bà Huỳnh Lê Huyền T được ly hôn với ông Lê Phi B.

2. Về con chung: Bà Huỳnh Lê Huyền T được quyền trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên tên là Lê Phi C, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2007.

Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, ông Lê Phi B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

- Bà Huỳnh Lê Huyền T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số TU/2017/0001381 ngày 6 tháng 8 năm 2018 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đ. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.

- Ông Lê Phi B không phải chịu tiền án phí sơ thẩm.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ