- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trương Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 BLHS - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2017/HSST Ngày: 30/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Luân Văn Lý.
2. Ông Dƣơng Khánh Luy.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hà Trƣng -Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2017. Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2017/HSST ngày 21tháng 7 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 126/2017/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRƢƠNG THẾ A, sinh ngày 10/6/1994;
Hộ khẩu thƣờng trú: Tổ B, phƣờng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở: nhƣ trên;
Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Nùng; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông;
Con ông: Trƣơng Xuân Đ, sinh năm 1970; Con bà: Nông Thị D, sinh năm 1969, cùng trú tại: Tổ B, phƣờng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng;
Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt vào nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 14/4/2017; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Hồi 9 giờ 30 phút ngày 14 tháng 04 năm 2017, tại khu vực đƣờng tròn ngã tƣ thuộc tổ 04, phƣờng Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy, môi trƣờng Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đang tiến hành tuần tra thì bắt quả tang Trƣơng Thế A (Sinh ngày 10/6/1994; trú tại Tổ B, phƣờng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói Hêrôin có trọng lƣợng là 0,11gam (Không phẩy mƣời một gam, thu giữ bên trong túi quần bên trái đằng trƣớc chiếc quần A đang mặc; 01 điện thoại di động màu đen hiệu MASSTEL đã qua sử dụng; 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) tiền Việt Nam thu giữ trong túi quần trƣớc bên trái của A.
Ngày 18 tháng 5 năm 2017, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định trƣng cầu giám định số 71 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 92/GĐMT ngày 31 tháng 5 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy: Heroine.
Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT:20, Nghị định số: 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ".
Quá trình điều tra, Trƣơng Thế A đã khai nhận hành vi phạm tội nhƣ sau:
Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 14 tháng 4 năm 2017, A ra khu vực Bến xe khách thành phố CB để tìm mua Hêrôin về sử dụng. Tại đây, A gặp một ngƣời đàn ông khoảng 35 tuổi (Không biết tên và địa chỉ), ngƣời này hỏi A có mua Hêrôin không, A trả lời là có và hỏi một gói bao nhiêu tiền. Ngƣời đàn ông này nói một gói giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). A đồng ý mua và lấy tiền ra đƣa cho ngƣời này 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Ngƣời đàn ông cầm lấy tiền rồi đi đâu đó khoảng 05 phút sau quay lại đƣa cho A 01 gói Hêrôin đƣợc gói bằng giấy viết màu trắng. Sau khi trao đổi xong, ngƣời đàn ông đi đâu không biết, còn A cất giấu gói Hêrôin vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi ra khu vực ngã tƣ đƣờng tròn thuộc tổ B, phƣờng SB, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng tìm chỗ sử dụng thì bị công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi nói trên của Trƣơng Thế A đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trƣớc pháp luật về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã ra cáo trạng số: 50/KSĐT – MT ngày 20/7/2017 truy tố bị cáo Trƣơng Thế A ra trƣớc Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên; Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cùng phù hợp với các nội dung khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và cùng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cũng nhƣ tang vật đã đƣợc thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm: Truy tố bị cáo Trƣơng Thế A về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho ngƣời phạm tội, mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tang vật trong vụ án đƣợc xác định là Heroine; sau giám định cơ quan giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết; Về chiếc điện thoại di động hiệu Masstel và khoản tiền 400.000đ, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy cần trả cho bị cáo để quản lý sử dụng.
Tại phiên tòa bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến hay khiếu nại gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và của Tòa án.
Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trƣớc khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bản thân bị cáo rất ăn năn, hối hận, bị cáo biết mình đã sai và mong hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng lƣợng khoan hồng của pháp luật với mức án thấp nhất để cho bị cáo đƣợc sớm trở về hòa nhập cộng đồng, làm ngƣời công dân lƣơng thiện, có ích cho xã hội sau này.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa bị cáo Trƣơng Thế A thừa nhận hành vi: Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 08 giờ, ngày 14 tháng 4 năm 2017, A ra khu vực bến xe khách thành phố CB để tìm mua Hêrôin về sử dụng. Tại đây, A gặp một ngƣời đàn ông khoảng 35 tuổi (không biết tên và địa chỉ), ngƣời này hỏi A có mua Hêrôin không, A trả lời là có và hỏi một gói bao nhiêu tiền. Ngƣời đàn ông này nói một gói giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). A đồng ý mua và lấy tiền ra đƣa cho ngƣời này 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Ngƣời đàn ông cầm lấy tiền rồi đi đâu đó khoảng 05 phút sau quay lại đƣa cho A 01 gói Hêrôin đƣợc gói bằng giấy viết màu trắng. Sau khi trao đổi xong, ngƣời đàn ông đi đâu không biết, còn A cất giấu gói Hêrôin vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi ra khu vực ngã tƣ đƣờng tròn thuộc tổ B, phƣờng SB, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng tìm chỗ sử dụng thì bị công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Xét lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập đƣợc, đó là: Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang do Công an thành phố Cao Bằng lập hồi 09h30 ngày 14/4/2017; Biên bản mở niêm phong tang vật cân xác định trọng lƣợng tịnh lấy mẫu giám định và niêm phong lại do Công an thành phố Cao Bằng lập hồi 11h40 ngày 14/4/2017 và Kết luận giám định số 92/GĐMT ngày 31/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng; qua đó thể hiện rõ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Việc viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo theo nhƣ cáo trạng số: 50/KSĐT-MT ngày 20/7/2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo A là một công dân có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi, có trình độ văn hoá phổ thông lớp 12/12, sống nơi tập trung đông dân cƣ, có đủ điều kiện về thông tin, văn hoá xã hội và pháp luật, nên bị cáo hoàn toàn biết Heroine là một dạng ma tuý độc dƣợc gây nghiện Nhà nƣớc độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng... nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội chỉ để nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy của mình, phó mặc mọi hậu quả sảy ra đối với xã hội, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và mang tính nghiêm trọng, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, tiếp tay cho tệ nạn xã hội và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác; bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là hoàn toàn cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng, bị cáo là một ngƣời nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hành vi phạm tội thuộc trƣờng hợp lần đầu và ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, vậy hoàn toàn đủ điều kiện cho bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, đồng thời theo hƣớng dẫn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 hƣớng dẫn về áp dụng một số quy định có lợi cho ngƣời phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015, thì căn cứ điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, hành vi phạm tội của Trƣơng Thế A đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.Tuy nhiên khi lƣợng hình cần đánh giá đúng về tính chất, hậu quả và hành vi nguy hiểm của bị cáo gây ra đối với xã hội để áp dụng hình phạt là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời nhất định, nhƣ vậy mới tƣơng xứng với tính chất, hậu quả do hành vi nguy hiểm mà bị cáo đã gây ra, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm về ma tuý nói riêng.
Xét bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ xung là phạt tiền; tuy nhiên xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, không việc làm thu nhập ổn định, nên việc áp dụng phạt tiền đối với bị cáo là không phù hợp.
Về vật chứng: Heroine sau giám định cơ quan giám định không hoàn lại nên không đặt vấn đề xem xét xử lý; về chiếc điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng và khoản tiền 400.000đ xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy cần trả cho bị cáo để quản lý sử dụng.
Ngoài trách nhiệm hình sự, bị cáo sẽ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Trƣơng Thế A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trƣơng Thế A 15(Mƣời năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt đƣợc tính kể từ ngày 14/4/2017.
2. Về tài sản: Căn cứ Điều 74, 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật hình sự.
Xử trả cho Trƣơng Thế A (Trú tại: Tổ B, phƣờng NX, thành phố CB):
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng (Niêm phong trong phong bì, mặt ngoài ghi vụ: Trƣơng Thế A, sinh năm 1994; HKTT: Tổ B, phƣờng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy – Bắt ngày 14/4/2017).
- Khoản tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Việt Nam (Niêm phong trong phong bì, mặt ngoài ghi vụ: Trƣơng Thế A, sinh năm 1994; HKTT: Tổ B, phƣờng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy - Bắt ngày 14/04/2017).
Toàn bộ vật chứng, tài sản trên hiện đang đƣợc tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/7/2017.
3. Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử buộc bị cáo Trƣơng Thế A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nƣớc.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ; - Lƣu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Thảo |