vanban.org

Bản án 57/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Cẩm N đối với anh Nguyễn Văn P.

Chị Đoàn Thị Cẩm N và anh Nguyễn Văn P được ly hôn. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đoàn Duy H – sinh năm 2008 cho chị Đoàn Thị Cẩm N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn P cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Cẩm N đối với anh Nguyễn Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 21-9-2017
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thanh Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Văn Tự;

Ông Trần Hữu Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nam, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nhã - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 327/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2017/QĐST-HNGĐ ngày 31-8-2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Cẩm N; cư trú tại nhà số 19/1, khu phố T, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P; cư trú tại tổ 9, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đoàn Thị Cẩm N trình bày trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn P chung sống với nhau từ năm 2007, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh vào ngày 11/6/2007. Anh chị chung sống hạnh phúc với nhau đến khoảng đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con. Mặc dù chị đã khuyên anh nhiều lần nhưng anh vẫn không thay đổi, từ đó dẫn đến anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã với nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Chị về nhà mẹ ruột sống từ tháng 05/2017 cho đến nay. Anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Đoàn Duy H, sinh năm 2008, hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P vì xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn. Về con chung thì chị yêu cầu được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị Đoàn Thị Cẩm N về thời gian chung sống, đăng ký kết hôn, con chung là đúng sự thật. Anh chị chung sống hạnh phúc với nhau đến khoảng đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã với nhau về vấn đề tiền bạc trong gia đình, từ đó dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau. Anh chị sống ly thân với nhau từ khoảng tháng 5/2017 cho đến nay. Sau đó khoảng cuối tháng 06/2017 thì anh có đến gặp chị N để hàn gắn tình cảm và năn nỉ chị N quay về tiếp tục chung sống với anh nhưng chị N không đồng ý. Nay chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý vì anh vẫn còn thương vợ thương con, anh xin được đoàn tụ. Anh yêu cầu được đoàn tụ với chị N do đó về con chung anh không đặt ra giải quyết trong vụ án này, kể cả việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu phát biểu quan điểm: Xét thấy Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không ý kiến gì thêm.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh P đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N với anh P là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Con chung tên Nguyễn Đoàn Duy H, sinh năm 2008, hiện đang sống với chị N. Xét thấy từ lúc vợ chồng sống riêng với nhau, cháu H theo chị N sống, cháu sống tốt, tâm sinh lý phát triển bình thường, đồng thời nguyện vọng của cháu là được sống cùng với mẹ. Do đó giao con chung cho chị N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

Anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh P.

Chị Đoàn Thị Cẩm N và anh Nguyễn Văn P chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn. Nay chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P vì cho rằng mâu thuẫn trầm trọng, không thể chung sống được nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh P xảy ra nhiều mâu thuẫn. Anh P và chị N đều thừa nhận trong thời gian chung sống hai vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 5/2017 cho đến nay. Qua xác minh chính quyền địa phương nơi anh P và chị N chung sống thì được chính quyền địa phương xác nhận thời gian đầu năm 2017 đến nay anh P và chị N thường xuyên xảy ra cãi vã, anh P thường xuyên cờ bạc, không quan tâm, chăm sóc vợ con, có vài lần anh P đánh chị N, mặc dù anh chị đã được chính quyền địa phương hòa giải can thiệp nhưng không thành. Mặt khác anh P yêu cầu được đoàn tụ nhưng trong suốt thời gian vợ anh và con anh về nhà mẹ ruột sống, anh vẫn không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm, bỏ mặc vợ con và tiếp tục cờ bạc. Từ đó xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh P đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị N với anh P là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đoàn Duy H, sinh năm 2008, hiện đang sống với chị N. Xét thấy từ lúc vợ chồng sống riêng với nhau, cháu H theo chị N sống, cháu sống tốt, tâm sinh lý phát triển bình thường, đồng thời nguyện vọng của cháu là được sống cùng với mẹ. Do đó căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung cho chị N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Cẩm N đối với anh Nguyễn Văn P.

Chị Đoàn Thị Cẩm N và anh Nguyễn Văn P được ly hôn.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đoàn Duy H – sinh năm 2008 cho chị Đoàn Thị Cẩm N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh Nguyễn Văn P cấp dưỡng nuôi con.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Đoàn Thị Cẩm N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị N đã nộp theo biên lai số 0015352 ngày 13/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ