vanban.org

Bản án 57/2017/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/11/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, bà Phạm Thị L, bà V Thị N, bà V Thị T, ông Trần Văn N, ông V Thanh H, bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 14/2017/DS-ST ngày 23/8/2017 của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Văn T, Cao Thị H với Vũ Chí C, Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2017/DS-PT
Ngày 29-11-2017.
“V/v tranh chấp h p đồng
chuyển như ng uyền s dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Văn Thuyên

Các Thẩm phán: ng Nguy n Xuân Chiến

ng K’Tiêng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguy n Thị Thanh Hoà – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2017/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2017 về “Tranh chấp h p đồng chuyển như ng uyền s dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2017/DS-ST, ngày 23 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 59/2017/QĐ-PT ngày 26/10/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ng Nguy n Văn T và bà Cao Thị H

Địa chỉ: Thôn 9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

Người đại diện theo u uyền của nguyên đơn: ng Nguy n Văn K – Văn bản u quyền ngày 13/9/2016 – Có mặt

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Đắk Nông

- ị đơn: ng V Chí C và bà Nguy n Thị H – Có mặt

Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

Người bảo vệ uyền và l i ch h p pháp của bà Nguy n Thị H: ng Phương Ng c D – Luật sư thuộc Chi nhánh Văn phòng luật sư Vạn Lý tại Tây Nguyên, Đoàn luật sư Thành phố Cần Thơ – Có mặt

- Người có uyền l i nghĩa vụ liên uan:

1. ng Trần Văn N – Vắng mặt

2. Bà V Thị T – Có mặt

Cùng địa chỉ: Tổ 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

3. ng Trần Đình H và bà Dương Thị H

Người đại diện theo u uyền của ông Trần Đình H: Bà Dương Thị H – Văn bản u quyền ngày 29/11/2016 – Có mặt

Cùng địa chỉ: Tổ 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

4. ng Nguy n Văn T1 và bà V Thị H

Địa chỉ: Thôn 10, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

Người đại diện theo u uyền của ông Nguy n Văn T1 và bà V Thị H: ng Nguy n Văn K – Văn bản u quyền ngày 13/9/2016 – Có mặt

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Đắk Nông

5. Bà Phạm Thị K – Có mặt

Địa chỉ: Thôn 6, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

6. Bà Phạm Thị V – Có mặt

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

7. Bà Phạm Thị L – Có mặt

Địa chỉ: Tổ 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

8. Bà Hứa Thị T – Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

9. ng V Thanh H và bà Nguy n Thị H1

Người đại diện theo u uyền của bà Nguy n Thị H1: Ông V Thanh H– Văn bản u quyền ngày 25/11/2016 – Có mặt

Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

10. ng Trần Nhà T – Có mặt

11. Bà Phạm Thị Đ – Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

12. Bà V Thị N– Có mặt

13. V Thị H1 – Vắng mặt

14. ng V Văn C và bà V Thị T – Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguy n Thị H, ông V Chí C; Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan: Bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị L, bà V Thị N, bà V Thị T, ông Trần Văn N, ông V Thanh H, bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày - -

và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ng Nguy n V n T và à ao Th H trình bày: Ngày 01/9/2015 ông T, bà H có nhờ vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H nhận chuyển nhượng 03 thửa đất của vợ chồng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, cụ thể:

- Thửa đất số 01, tờ bản đồ độc lập, diện tích:110m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt là GCNQSDĐ) số BL 002281 do U ban nhân dân (Viết tắt là UBND) huyện Đ cấp ngày 25/12/2012;

- Thửa đất số 02, tờ bản đồ độc lập, diện tích 100m2, GCNQSDĐ số BL 728082 do UBND huyện Đ cấp ngày 22/01/2013.

- Thửa đất số 01, tờ bản đồ độc lập 26, diện tích 1.200m2, GCNQSDĐ số BU 590053 do UBND huyện Đ cấp ngày 02/6/2014.

Cùng địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông

Giá chuyển nhượng là 2.200.000.000 Hai tỉ hai trăm triệu đồng. Khi chuyển nhượng hai bên chỉ viết giấy tay có chữ ký của vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H và vợ chồng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H.

Ngày 08/10/2015, ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H và ông V Chí C, bà Nguy n Thị H thỏa thuận lập lại hợp đồng viết tay chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên v i giá chuyển nhượng 3.150.000.000 a tỉ một trăm năm mươi triệu đồng, thời hạn trả tiền: Lần 01 giao 820.000.000 đồng để ông V Chí C, bà Nguy n Thị H trả tiền vay Ngân hàng, nhận lại 03 GCNQSDĐ đang thế chấp; lần 2 trả đủ số tiền còn lại 2.330.000.000 Hai tỉ ba trăm ba mươi triệu đồng vào ngày 15/12/2015.

Cùng ngày 08/10/2015 các bên thống nhất hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay giữa ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H v i ông V Chí C, bà Nguy n Thị H ký ngày 08/10/2015 và thỏa thuận lại người đứng ra nhận chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên là vợ chồng ông Nguy n Văn T và bà Cao Thị H, giá chuyển nhượng là 3.150.000.000 đồng. Thời hạn trả tiền: Lần 1 giao 820.000.000đ để ông V Chí C, bà Nguy n Thị H trả tiền vay Ngân hàng Sacombank chi nhánh Đắk Lắk, nhận lại 03 GCNQSDĐ; số tiền còn lại sẽ được trừ vào khoản nợ 2.370.000.000đ ông V Chí C, bà Nguy n Thị H có vay của ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H trư c đó.

Đến ngày 27/10/2015, ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H và ông V Chí C, bà Nguy n Thị H công chứng hợp đồng chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên tại Văn phòng công chứng Đắk Mil. Tuy nhiên, giá các bên ghi trong hợp đồng là 300.000.000 a trăm triệu đồng, mục đích để giảm tiền thuế khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thực tế, giá chuyển nhượng 03 thửa đất trên là 3.150.000.000 đồng như hợp đồng ngày 08/10/2015 mà hai bên đã ký kết. Ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H đã thanh toán đầy đủ tiền cho ông V Chí C, bà Nguy n Thị H và đã nhận 03 GCNQSDĐ để làm thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng đất nhưng do ông V Chí C, bà Nguy n Thị H bị khởi kiện tại Toà án nên không hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất được. Ngày 01/4/2016 Chi cục Thi hành án huyện Đ đã ra Quyết định số: 09/QĐ-CCTHADS cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản đối v i 03 thửa đất nêu trên của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nguyên đơn ông Nguy n Văn T và bà Cao Thị H đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông V Chí C, bà Nguy n Thị H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng vào ngày 27/10/2015.

B đơn ng V h C, và à Nguy n Th H trình bày: ng bà thừa nhận có việc thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H vào ngày 01/9/2015 và ngày 08/10/2015 như lời trình bày của nguyên đơn là đúng sự thật. Tuy nhiên, đến hạn thanh toán ngày 15/12/2015 vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H không thanh toán số tiền 2.330.000.000 đồng như thỏa thuận nên hợp đồng này đã bị hu bỏ. Đối v i số tiền 820.000.000 đồng trả Ngân hàng Sacombank chi nhánh Đắk Lăk là tiền của vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H, khi trả nợ ngân hàng, ông V Chí C, bà Nguy n Thị H có ký giấy nhận vay nợ riêng chứ không phải là tiền chuyển nhượng.

Ngày 08/10/2015 ông V Chí C, bà Nguy n Thị H ký tiếp hợp đồng chuyển nhượng 03 thửa đất trên cho vợ chồng ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H v i nội dung chuyển nhượng như đã ký v i ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H, v i mục đích tẩu tán tài sản khỏi bị kê biên thi hành án.

Ngày 27/10/2015, ông V Chí C, bà Nguy n Thị H cùng ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H đến Văn phòng công chứng Đắk Mil công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo m u, nhưng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H không biết nội dung của hợp đồng và giá chuyển nhượng, do tin tưởng ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H và tinh thần hoảng loạn do làm ăn thua l nên muốn tẩu tán tài sản duy nhất nên ông bà đã ký vào hợp đồng. Hơn nữa, do 03 lô đất nêu trên của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H đã bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ cưỡng chế, kê biên để đảm bảo thực hiện ngh a vụ thi hành án cho các chủ nợ nên ông V Chí C, bà Nguy n Thị H không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2015.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguy n V n T1, à V Th H trình bày: Ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H thừa nhận việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i ông V Chí C, bà Nguy n Thị H đúng như nguyên đơn ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H trình bày và kh ng định ông bà chỉ đứng tên thay cho ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H để lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Số tiền chuyển nhượng và số tiền 820.000.000 đồng trả nợ Ngân hàng cho ông V Chí C, bà Nguy n Thị H là của ông ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H không liên quan gì đến ông bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: à Dương Thị H, ông Trần Đình H, ông Trần Văn N, bà V Thị T, bà Phạm Thị K, bà Phạm Thị V, bà V Thị T1, ông V Thanh H, bà Nguy n Thị H1, bà Phạm Thị Đ, ông Trần Nhà T, bà Hứa Thị T, bà V Thị H1, ông Đỗ Ngọc H , bà V Thị N, bà Phạm Thị L đều trình bày: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ đã tổ chức kê biên 03 thửa đất đã nêu trên của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H theo Quyết định kê biên số: 09/QĐ-CCTHADS ngày 01/4/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, để đảm bảo thực hiện ngh a vụ thi hành án của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H đối v i các khoản nợ. Tại thời điểm kê biên, 03 thửa đất chuyển nhượng giữa ông V Chí C, bà Nguy n Thị H v i ông ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H chưa được đăng ký sang tên quyền sử dụng đất nên chưa phát sinh hiệu lực. Vì vậy, đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2015 giữa vợ chồng ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H v i vợ chồng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H.

Tại Bản án số: 14/2017/DS-ST, ngày 23-8-2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đã căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 149, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005.

Áp dụng các Điều 122, Điều 689, Điều 697, Điều 698, Điều 699 của Bộ luật Dân sự 2005; điểm a khoản 3 Điều 167, Điều 188 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số: 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC; Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên x :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguy n Văn T và bà Cao Thị H.

1.1. Công nhận hợp đồng lập ngày 27/10/2015 tại Văn phòng công chứng Đắk Mil giữa ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H v i ông V Chí C, bà Nguy n Thị H về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đối v i 03 thửa đất: thửa đất diện tích 110m2 đất ở, số thửa 01, tờ bản đồ độc lập; thửa đất diện tích 100m2 đất ở, số thửa 02, tờ bản đồ độc lập; thửa đất diện tích 1.200m2 đất trồng cây lâu năm, số thửa 01, tờ bản đồ độc lập 26, cùng t a lạc tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

1.2. ng Nguy n Văn T, bà bà Cao Thị H được tr n quyền sử hữu các tài sản như sau:

- 01 nhà xây cấp 4 có diện tích 155,4m2 (10,5m x 14,8m); trong đó có phần diện tích n m trong hành lang lộ gi i giao thông quốc lộ 14 là 82,43m2; 01 nhà tạm diện tích 51,25m; 01giếng nư c sâu 25m. Các tài sản này thuộc thửa đất diện tích 110m2 đất ở, số thửa 01, tờ bản đồ độc lập và thửa đất diện tích 100m2 đất ở, số thửa 02, tờ bản đồ độc lập, cùng toạ lạc tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- 28 cây bông gòn, 28 cây tiêu trồng năm 2014, 04 cây bơ ghép trồng năm 2012. Các tài sản này thuộc thửa đất diện tích 1.200m2 đất trồng cây lâu năm, số thửa 01, tờ bản đồ độc lập 26, t a lạc tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

1.3. Buộc ông V Chí C, bà Nguy n Thị H phải giao 03 thửa đất theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/10/2015 và tất cả các tài sản có trên đất cho ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H.

(Đặc điểm về đất và tài sản gắn liền trên đất như biên bản xem xét, thẩm định tại ch ngày 06/01/2017).

1.4. Buộc ông Nguy n Văn T và bà Cao Thị H phải trả cho ông V Chí C và bà Nguy n Thị H trị giá của nhà, nhà tạm và vật kiến trúc gắn liền trên đất là 137.893.000 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan: ng Trần Văn N, bà V Thị T, bà Dương Thị H, ông Trần Đình H về việc yêu cầu hu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2015 giữa ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H v i ông V Chí C, bà Nguy n Thị H.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí chi phí xem xét thẩm định tại ch , định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét x sơ thẩm:

- Ngày 05 01 bị đơn ông V Ch C, bà Nguy n Thị H có đơn kháng cáo ản án sơ thẩm s : 1 01 DS-ST, ngày tháng năm 01 của Tòa án nh n d n huyện Đ, yêu cầu Hội đồng xét x s a bản án sơ thẩm theo hư ng hu h p đồng chuyển như ng uyền s dụng đất lập ngày 10 015 giữa ông bà v i ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H;

- Ngày 01 01 , ngày 05 01 và ngày 0

01 người có uyền l i nghĩa vụ liên uan bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K, ông V Thanh H, bà V Thị T, ông Trần Văn N, bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị L, bà V Thị N có đơn kháng cáo ản án sơ thẩm s : 1 01 DS-ST, ngày tháng năm 01 của Tòa án nh n d n huyện Đ, yêu cầu Hội đồng xét x hu bản án sơ thẩm v i l do tại thời điểm kê biên, uyền s dụng đất chưa đư c đăng k sang tên cho ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H nên v n thuộc uyền s dụng của ông V Ch C, bà Nguy n Thị H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn v n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự đều trình bày như ở giai đoạn sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguy n Thị H: Luật sư Phương Ng c D trình bày luận cứ: Trên thực tế, việc chuyển nhượng là giữa vợ chồng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H v i vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H, còn ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H chỉ là người đứng ra nhận chuyển nhượng thay cho ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H, tuy nhiên các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H nhờ vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H nhận chuyển nhượng là không phù hợp. Việc ông Nguy n Văn T và bà Cao Thị H cho r ng đã đưa số tiền 820.000.000 đồng để cho ông V Chí C, bà Nguy n Thị H trả nợ ngân hàng lấy sổ đỏ thế chấp và số tiền chuyển nhượng còn lại được trừ vào khoản nợ 2.370.000.000 đồng là không có căn cứ vì không đưa ra được chứng cứ chứng minh, không được sự thừa nhận của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H nên đây là giấy nhận nợ riêng, không liên quan đến tiền chuyển nhượng. Ngoài ra, bản án sơ thẩm buộc ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H trả lại giá trị tài sản gắn liền v i đất cho ông V Chí C, bà Nguy n Thị H là đã giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện vì nguyên đơn chỉ yêu cầu Toà án buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng. Từ những lập luận trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguy n Thị H, hu bản án sơ thẩm số: 14/2017/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông nhận thấy:

+ Việc ông V Chí C, bà Nguy n Thị H ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H là có thật, được các bên thừa nhận chữ ký. Giá chuyển nhượng thực tế là 3.150.000.000 đồng và đã được ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H thanh toán cho ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, bao gồm: 820.000.000 đồng trả tiền ngân hàng và trừ vào số tiền ông V Chí C, bà Nguy n Thị H đã vay, có thoả thuận trong giấy chuyển nhượng viết tay ngày 08/10/2015. Phía bị đơn ông V Chí C, bà Nguy n Thị H cho r ng chưa nhận được số tiền chuyển nhượng nhưng đã thừa nhận có vay của ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H 2.370.000.000 đồng, đối v i số tiền 820.000.000 đồng trả Ngân hàng thì ông V Chí C, bà Nguy n Thị H cho r ng là của vợ chồng ông Nguy n Văn T1, bà V Thị H nhưng không được ông Nguy n Văn T1 thừa nhận và ông Nguy n Văn T1 kh ng định số tiền trên là của ông Nguy n Văn T. Ông V Chí C, bà Nguy n Thị H c ng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Đồng thời, tại thời điểm công chứng hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/10/2015 thì chưa có bản án, quyết định của Toà án buộc ông V Chí C, bà Nguy n Thị H phải thực hiện ngh a vụ đối v i các đương sự khác (Quyết định đầu tiên là Quyết định số 29/2015/QĐST-DS ngày 18/11/2015) nên không vi phạm khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số: 14/2010/TTLT/BTP-TANDTC-VKSNDTC hư ng d n về kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V Chí C, bà Nguy n Thị H v i ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H là đúng pháp luật.

+ Đối v i người có quyền lợi ngh a vụ liên quan bà Phạm Thị Đ vắng mặt tại phiên toà không có lý do chính đáng, đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ.

Từ những nhận định trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K, ông V Thanh H, bà V Thị T, ông Trần Văn N, bà Phạm Thị L, bà V Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 14/2017/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu lưu trong hồ sơ, kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

1 Xét yêu cầu kháng cáo của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hư ng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết giữa ông bà v i ông Nguy n Văn T và bà Cao Thị H vào ngày 27/10/2015.

Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng vào ngày 27/10/2015 và Hợp đồng viết tay thoả thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/10/2015 (BL 03-04, 24-25) thể hiện: Vợ chồng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H 03 thửa đất, cụ thể:

- Thửa đất số 01, tờ bản đồ độc lập, diện tích:110m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt là GCNQSDĐ) số BL 002281 do U ban nhân dân (Viết tắt là UBND) huyện Đ cấp ngày 25/12/2012;

- Thửa đất số 02, tờ bản đồ độc lập, diện tích 100m2, GCNQSDĐ số BL 728082 do UBND huyện Đ cấp ngày 22/01/2013.

- Thửa đất số 01, tờ bản đồ độc lập 26, diện tích 1.200m2, GCNQSDĐ số BU 590053 do UBND huyện Đ cấp ngày 02/6/2014

Cùng địa chỉ: Tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông

Về giá chuyển nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/10/2015 là 300.000.000 đồng nhưng theo Hợp đồng viết tay thoả thuận việc chuyển nhượng ngày 08/10/2015 và nguyên đơn ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H trình bày thì giá chuyển nhượng thực tế là 3.150.000.000 đồng và đã trả hết tiền chuyển nhượng cho ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, cụ thể: Ngày 08/10/2015 ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H giao cho ông V Chí C bà Nguy n Thị H 820.000.000 đồng trả nợ Ngân hàng Sacombank Chi nhánh Đắk Lăk để nhận lại GCNQSDĐ đang thế chấp, số tiền chuyển nhượng còn lại là 2.330.000.000 đồng đã được trừ vào số nợ 2.370.000.000 đồng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H nợ ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H trư c đó. ng Nguy n Văn T, bà Cao Thị H có cung cấp Giấy nhận nợ ngày 01/9/2015 thể hiện việc ông V Chí C, bà Nguy n Thị H vay số tiền 2.370.000.000 đồng để chứng minh cho lời khai của mình (BL 30-31). Phía bị đơn ông V Chí C, bà Nguy n Thị H c ng thừa nhận giá thực tế chuyển nhượng là 3.150.000.000 đồng nhưng cho r ng chưa nhận được tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không có căn cứ, bởi lẽ:

- Đối v i số tiền 820.000.000 đồng trả Ngân hàng: Ông V Chí C, bà Nguy n Thị H cho r ng là tiền vay của ông Nguy n Văn T1, có ký giấy vay tiền riêng cho ông Nguy n Văn T1, không liên quan đến tiền chuyển nhượng nhưng ông V Chí C, bà Nguy n Thị H không đưa ra được chứng cứ để chứng minh. ng Nguy n Văn T1 không thừa nhận lời trình bày của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H và kh ng định số tiền trên là của ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H.

- Đối v i số tiền 2.330.000.000 đồng: Tại hợp đồng chuyển nhượng giấy viết tay ngày 08/10/2015 đã thể hiện việc hai bên thoả thuận số tiền chuyển nhượng sẽ được trừ vào số tiền ông V Chí C, bà Nguy n Thị H vay của ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H. Ông V Chí C, bà Nguy n Thị H c ng thừa nhận có nợ của ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H số tiền 2.370.000 đồng theo Giấy nhận nợ ngày 01/9/2015. ng V Chí C, bà Nguy n Thị H cho r ng số tiền 2.370.000.000 đồng là hợp đồng vay tiền riêng không liên quan đến tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh.

Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2015 được lập theo m u, được công chứng là phù hợp về hình thức theo Điều 122, Điều 689 Bộ luật Dân sự 2005. Tại thời điểm chuyển nhượng 03 thửa đất nêu trên đã được cấp GCNQSDĐ đứng tên ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, chưa có bản án, quyết định sơ thẩm mà ông V Chí C, bà Nguy n Thị H là người phải thi hành (Quyết định đầu tiên là Quyết định số: 29/2015/QĐST-DS ngày 18/11/2015 giải quyết tranh chấp giữa bà Phạm Thị K và ông V Chí C, bà Nguy n Thị H), nên có đầy đủ điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, quy định:

“1. Người s dụng đất đư c thực hiện các uyền chuyển đổi, chuyển như ng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp uyền s dụng đất; góp v n bằng uyền s dụng đất khi có các điều kiện sau đ y:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường h p quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường h p nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền s dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn s dụng đất.

2. ..”

Đồng thời, không trái v i quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số: 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 hư ng d n thi hành Luật Thi hành án Dân sự, quy định:

“1. Kể từ thời điểm có bản án, uyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển như ng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm c tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không s dụng khoản tiền thu đư c để thi hành án thì tài sản đó v n bị kê biên để thi hành án, trừ trường h p pháp luật có uy định khác.

Kể từ thời điểm có bản án, uyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường h p đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển như ng tặng cho, thế chấp bảo lãnh, cầm c cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, x l để thi hành án”.

Hợp đồng chuyển nhượng được ký kết giữa các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận toàn bộ tiền chuyển nhượng và đã bàn giao 03 GCNQSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng để làm thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng đất theo quy định. Phía bị đơn ông V Chí C, bà Nguy n Thị H cho r ng do tinh thần hoảng loạn và muốn tẩu tán tài sản nên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v i ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H là không có căn cứ bởi lẽ: Hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng viết tay ngày 08/10/2015 nhưng đến ngày 25/10/2015 m i tiến hành công chứng hợp đồng, hợp đồng đã được đ c lại cho các bên nghe m i ký, có xác nhận của Công chứng viên. ng V Chí C, bà Nguy n Thị H không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh cho lời khai của mình.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V Chí C, bà Nguy n Thị H v i ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H là có căn cứ, đúng pháp luật.

2 . Đối v i yêu cầu hu bản án sơ thẩm của bị đơn bà Nguy n Thị H v i lý do bản án sơ thẩm buộc ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H trả lại giá trị tài sản gắn liền v i đất cho ông V Chí C, bà Nguy n Thị H là đã giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy: Nội dung này vượt quá phạm vi kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3 . Xét yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi ngh a vụ liên quan: bà Phạm Thị L, bà V Thị N, bà V Thị T, ông Trần Văn N, ông V Thanh H, bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K yêu cầu Hội đồng xét xử hu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V Chí C, bà Nguy n Thị H v i ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H v i lý do tại thời điểm kê biên, quyền sử dụng đất chưa được đăng ký sang tên cho ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H nên v n thuộc quyền sử dụng của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Không có căn cứ để chấp nhận như đã phân tích tại mục 1 .

[4 . Đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên toà, bà Phạm Thị Đ vắng mặt không có lý do, đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên cần căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên toà là có căn cứ, cần chấp nhận.

Từ phân tích và nhận định trên, HĐXX xét thấy cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ; không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, bà Phạm Thị L, bà V Thị N, bà V Thị T, ông Trần Văn N, ông V Thanh H, bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 14/2017/DS-ST ngày 23/8/2017 của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận hoặc bị đình chỉ xét xử phúc thẩm vì lý do vắng mặt nên người kháng cáo phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 122, Điều 689, Điều 697, Điều 698, Điều 699 của Bộ luật Dân sự 2005; điểm a khoản 3 Điều 167, Điều 188 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số: 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC hư ng d n thi hành Luật Thi hành án Dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí năm 2009; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Đ.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V Chí C, bà Nguy n Thị H, bà Phạm Thị L, bà V Thị N, bà V Thị T, ông Trần Văn N, ông V Thanh H, bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 14/2017/DS-ST ngày 23/8/2017 của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Tuyên x :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguy n Văn T và bà Cao Thị H.

- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/10/2015 tại Văn phòng công chứng Đắk Mil giữa ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H v i ông V Chí C, bà Nguy n Thị H đối v i 03 thửa đất: Thửa đất diện tích 110m2 đất ở, số thửa 01, tờ bản đồ độc lập, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 002281 do U ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 25/12/2012; thửa đất diện tích 100m2 đất ở, số thửa 02, tờ bản đồ độc lập, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 728082 do U ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 22/01/2013; thửa đất diện tích 1.200m2 đất trồng cây lâu năm, số thửa 01, tờ bản đồ độc lập 26, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 590053 do U ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 02/6/2014, cùng t a lạc tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Buộc ông V Chí C, bà Nguy n Thị H phải giao 03 thửa đất theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/10/2015 và tất cả các tài sản gắn liền v i đất cho ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H.

(Đặc điểm về đất và tài sản gắn liền trên đất như biên bản xem xét, thẩm định tại ch ngày 06/01/2017).

- Buộc ông Nguy n Văn Toản và bà Cao Thị Hải phải trả cho ông V Chí C và bà Nguy n Thị H trị giá tài sản gắn liền v i đất là 137.893.000 Một trăm ba mươi bảy triệu tám trăm ch n mươi ba ngàn đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan: ng Trần Văn N, bà V Thị T, chị Dương Thị H, ông Trần Đình H về yêu cầu hu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2015 giữa ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H v i ông V Chí C, bà Nguy n Thị H.

3. Về chi phí thẩm định tại ch , định giá tài sản: ng V Chí C, bà Nguy n Thị H phải trả cho ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H 9.700.000 Ch n triệu bảy trăm ngàn đồng chi phí xem xét thẩm định tại ch và định giá tài sản.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông V Chí C và bà Nguy n Thị H phải chịu 200.000 Hai trăm ngàn đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- ng Trần Đình H và bà Dương Thị H, ông Trần Văn N và bà V Thị T đều phải chịu 200.000 Hai trăm ngàn đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003992 ngày 30/12/2016 và biên lai số 0003997 ngày 06/01/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- ng Nguy n Văn T, bà Cao Thị H phải chịu 6.894.000 Sáu triệu tám trăm ch n mươi b n ngàn đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 38.000.000 a mươi tám triệu đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002169 ngày 27/7/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Trả lại cho ông Nguy n Văn T, bà Cao Thị H số tiền 31.106.000 a mươi m t triệu một trăm l sáu ngàn đồng .

Kể từ ngày bản án, uyết định có hiệu lực pháp luật Đ i v i các trường h p cơ uan thi hành án có uyền chủ động ra uyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án Đ i v i các khoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất uy định tại khoản Điều

ộ luật D n sự 015.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: ng V Chí C và bà Nguy n Thị H, bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị L, bà V Thị N, ông Trần Văn N và bà V Thị T, ông V Thanh H, bà Phạm Thị V, bà Phạm Thị K đều phải chịu 300.000 a trăm ngàn đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0000443, 0000444, 0000445, 0000446, 0000447, 0000448, 0000449, 0000450 ngày 06/9/2017, biên lai số 0000351 ngày 07/9/2017, biên lai số 0000356 ngày 08/9/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Trường h p bản án, uyết định đư c thi hành theo uy định tại Điều Luật thi hành án d n sự thì người đư c thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có uyền thỏa thuận thi hành án, uyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo uy định tại các điều , và Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 0 Luật Thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ