vanban.org

Bản án 568/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn B.

Xác định bé trai sinh ngày 01/10/2020 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng có tên tạm thời Dương Gia B1 trong giấy chứng sinh số 136, quyển số 17, có họ và tên người mẹ là Lê Thị N là con đẻ của anh Dương Văn B, sinh ngày 11/08/1994, có căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Cụm 1, thôn Tây, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Dương Văn B - Lê Thị N"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 568/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 29/12/2022.
V/v “Tranh chấp xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật; Ông Nguyễn Đại Huy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì,

thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/12/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 514/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc: “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2022/QĐXX-ST ngày 08 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Anh Dương Văn B, sinh năm 1994

Địa chỉ: Cụm 1, thôn T, xã PT, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.

+ Bị đơn: - Chị Lê Thị N, sinh năm 2000

Địa chỉ: Thôn HC, xã CS, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

- Anh Đỗ Quang H, sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn PX 2, xã PC, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

(Anh B, chị N có mặt, anh H xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/08/2022, bản tự khai ngày 08/11/2022; biên bản hòa giải ngày 05/12/2022: Anh Dương Văn B và chị Lê Thị N đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, Hà Nội ngày 18/3/2022 và có với nhau một người con chung là cháu Dương Gia B1 (tên tạm thời theo Giấy chứng sinh ngày 01/10/2020 của Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng). Trước khi kết hôn với anh B, chị N có quan hệ hôn nhân với anh Đỗ Quang H, cháu B1 được sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi chị N và anh H ly hôn. Vì vậy, anh B không thể làm được thủ tục khai sinh cho cháu B1. Nhiều lần anh B đã yêu cầu anh H hợp tác, đến các cơ quan có thẩm quyền để phối hợp làm thủ tục xác nhận cha cho con nhưng anh H từ chối, anh B cũng không nắm giữ được chứng cứ gì chứng minh cháu B1 không phải là con của anh H và chị N. Bản thân chị N cũng đã bỏ đi, thường xuyên vắng nhà, nên không thể làm được các thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu bé. Do vậy, anh Dương Văn B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì giải quyết xác định cháu bé do chị Lê Thị N sinh ra ngày 01/10/2020 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng có tên tạm thời Dương Gia B1 trong giấy chứng sinh số 136, quyển số 17 là con đẻ của anh Dương Văn B.

Về chi phí giám định: Anh B tự nguyện chịu toàn bộ chi phí liên quan đến việc giám định, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh B tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Tại bản tự khai ngày 08/11/2022, biên bản hòa giải ngày 05/12/2022 chị Lê Thị N trình bày: Chị N thừa nhận lời trình bày của anh Dương Văn B là đúng. Chị N và anh B kết hôn hợp pháp , đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, Hà Nội ngày 18/3/2022 và có với nhau một người con chung là cháu Dương Gia B1 (tên tạm thời theo Giấy chứng sinh ngày 01/10/2020 của Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng). Trước khi kết hôn với anh B, chị N có quan hệ hôn nhân với anh Đỗ Quang H, cháu B1 được sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi chị N và anh H ly hôn. Do công việc bận rộn nên chị cũng không có thời gian để đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định cha cho cháu B1. Nay anh B có đơn yêu cầu Tòa án xác định cha cho con đối với cháu B1 thì chị hoàn toàn nhất trí với đề nghị của anh B là yêu cầu Tòa án xác định cháu bé do chị sinh ra ngày 01/10/2020 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng có tên tạm thời Dương Gia B1 trong giấy chứng sinh số 136, quyển số 17 là con đẻ của anh Dương Văn B.

Tại bản tự khai ngày 23/11/2022, anh Đỗ Quang H trình bày: Anh không có quan hệ gì với anh Dương Văn B. Trước đây, anh có quan hệ hôn nhân với chị Lê Thị N. Tuy nhiên đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 200 ngày 25/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Anh H khẳng định cháu bé do chị Lê Thị N sinh ra ngày 01/10/2020 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng có tên tạm thời Dương Gia B1 trong giấy chứng sinh số 136, quyển số 17 không phải là con chung của chị N và anh H. Nay anh B yêu cầu Tòa án xác định cha con đối với cháu Dương Gia B1, bản thân anh H không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 514/2022/QĐ-TCGĐ ngày 11/11/2022, Tại bản kết luận giám định AND số HT553.22/PY-XNSH ngày 17/11/2022 của Viện pháp Y Quân Đội, Cục Quân Y kết luận: Anh Dương Văn B là cha đẻ của cháu bé do chị Lê Thị N sinh ra ngày 01/10/2020.

Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với anh Đỗ Quang H, tuy nhiên anh H xin vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay anh Dương Văn B và chị Lê Thị N vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị xác định cháu Dương Gia B1 là con đẻ của anh Dương Văn B.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tại phiên tòa: Việc thụ lý và giải quyết, thu thập chứng cứ trong vụ án ly hôn của Tòa án là đúng theo các quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị áp dụng Điều 28,35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định anh Dương Văn B là cha đẻ của bé trai do chị Lê Thị N sinh ra ngày 01/10/2020 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng có tên tạm thời Dương Gia B1 trong giấy chứng sinh số 136, quyển số 17.

Án phí: Anh Dương Văn B phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Dương Văn B khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp xác định cha cho con đối với bị đơn là chị Lê Thị N, anh Đỗ Quang H có hộ khẩu thường trú tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, việc Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét việc vắng mặt của đương sự: Anh Đỗ Quang H vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh Dương Văn B yêu cầu xác định anh là cha đẻ của bé trai do chị Lê Thị N sinh ra ngày 01/10/2020 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng có tên tạm thời Dương Gia B1 trong giấy chứng sinh số 136, quyển số 17; HĐXX xác định: Giấy chứng sinh số 136, quyển số 17 của Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng đã cấp chứng sinh 01 bé trai sinh ngày 01/10/2020 có họ và tên người mẹ là Lê Thị N. Chị N xác nhận giữa chị và anh B có quan hệ tình cảm với nhau dẫn đến chị có thai, đến ngày 10/10/2020 thì chị đã sinh một bé trai tại bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng. Theo Kết luận giám định AND số HT553.22/PY-XNSH ngày 17/11/2022 của Viện pháp y Quân Đội, Cục Quân y kết luận: “Anh Dương Văn B là cha đẻ của cháu bé do chị Lê Thị N sinh ra ngày 01/10/2020 ”. Do vậy yêu cầu của anh Dương Văn B xác định anh là cha đẻ của bé trai sinh ngày 01/10/2020 là có căn cứ, và được chấp nhận.

Về chi phí tố tụng: Anh Dương Văn B tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng về giám định AND, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Dương Văn B tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn B.

Xác định bé trai sinh ngày 01/10/2020 tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng có tên tạm thời Dương Gia B1 trong giấy chứng sinh số 136, quyển số 17, có họ và tên người mẹ là Lê Thị N là con đẻ của anh Dương Văn B, sinh ngày 11/08/1994, có căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, địa chỉ: Cụm 1, thôn Tây, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

2/ Về án phí: Anh Dương Văn B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ anh B đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì theo biên lai số 0060623 ngày 07/11/2022.

3/ Quyền kháng cáo: Anh Dương Văn B, chị Lê Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Đỗ Quang H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“

Cỡ chữ