- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực Thuế"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ (nay là Chi cục Thuế khu vực X).
- Căn cứ chính? Luật thuế giá trị gia tăng; Thông tư số 129/2008/TT-BTC Hướng dẫn thi hành một số điều c…; Thông tư số 130/2008/TT-BTC Hướng dẫn thi hành một số điều c…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 567/2025/HC-PT Ngày 13 - 5 - 2025 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực Thuế”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Bà Lê Thị Tuyết Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 250/2025/TLPT-HC ngày 19 tháng 03 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực Thuế”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2021/HC-ST ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1028/2025/QĐPT-HC ngày 26 tháng 04 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Công ty TNHH K;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thiện Đ, sinh năm 1960; Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn V, sinh năm 1944 (theo văn bản ủy quyền ngày 22/10/2014). Địa chỉ: Số C, khu dân cư khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Người bị kiện: Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chi cục Thuế khu vực X, theo Quyết định số 381 QĐ-BTC ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Bộ T3 và Quyết định số 904/QĐ-BTC ngày 03/3/2025 của Bộ trưởng Bộ T3 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế Khu vực thuộc Cục T).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tiến L – Chi cục Trưởng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Hữu H – Phó Chi cục trưởng
- Người kháng cáo: Người bị kiện Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/9/2014; 25/9/2014; 15/5/2015; 01/9/2017; 28/7/2018 của Công ty TNHH K, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Phan Văn V trình bày:
Công ty TNHH K (gọi tắt là C) khởi kiện yêu cầu xem xét hủy các quyết định cụ thể như sau: Một phần Quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 (Quyết định 333); Một phần Quyết định số 649a/QĐ-CT ngày 15/8/2014 (Quyết định 649a). Các căn cứ mà Cty KT yêu cầu hủy các nội dung của quyết định trên là do Cục thuế tỉnh Đ áp dụng không đúng quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp để truy thu thuế. Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp không có quy định về việc kê khai thu nhập về khoản lãi cho vay chưa thu được. Đây là hình thức kinh doanh ngoài giấy phép của C. Theo quy định kinh doanh ngoài giấy phép kinh doanh của Công ty là thu nhập khác. Riêng khoản lãi này C thu được năm 2009 đã kê khai nộp thuế, còn các năm 2010, 2011, 2012 thì Công ty K1 chưa thu được nên chưa kê khai nộp thuế. Đối với Quyết định 649a về giải quyết khiếu nại thì Cty KT có ý kiến như sau: Theo biên bản Thanh tra ngày 28/02/2014 của Cục T từ năm 2010, 2011 và 2012 theo kết luận: “Tăng doanh thu tài chính số tiền là 1.155.000.000 đồng do doanh nghiệp cho Công ty cổ phần T4 (C1) vay 11 tỷ đồng với lãi suất 0.875%/tháng từ ngày 20/8/2009 nhưng trong năm doanh nghiệp chưa hạch toán khoản tiền lãi này vào doanh thu tài chính”. Vi phạm quy định tại khoản 5, mục V, phần C - Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 (Thông tư số 130). Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập sau: “Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn bao gồm: lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng cho vay vốn”. Kết luận và trích dẫn văn bản quy phạm pháp luật như trên là hoàn toàn sai, bởi lẽ: Thứ nhất: Tại phần C - Thông tư số 130 hướng dẫn (doanh thu tại mục III và thu nhập khác tại mục V) cụ thể như sau: Điều 1 mục III về doanh thu quy định: “Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”. Mục V về thu nhập khác quy định: “Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà các khoản thu này không thuộc các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh có trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp”. Mặt khác, hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam cũng đã quy định cụ thể như sau: Tài khoản doanh thu bán hàng 511, tài khoản doanh thu tài chính 515, tài khoản thu nhập khác 711. Như vậy, khẳng định doanh thu tài chính và thu nhập khác là hai nội dung hoàn toàn khác nhau, quy định tại hai mục riêng. Nhưng theo biên bản thanh tra xác định lãi cho vay là doanh thu tài chính, nhưng lại trích dẫn văn bản pháp luật về thu nhập khác để xử lý là không đúng. Năm 2010, 2011 và 2012 Cty KT không có khoản lãi cho vay nào thuộc doanh thu tài chính. Khoản lãi cho C1 vay chưa thu được là khoản thu nhập khác, Cục thuế xử lý khoản này thành doanh thu tài chính phải hạch toán chịu thuế trong khi chưa thu được là không có căn cứ. Thứ hai: Công văn số 2474/TCT-CS ngày 19/7/2011 của T5 “V/v xác định các khoản thu nhập khác” trả lời Cục thuế tỉnh K nói rõ: “Căn cứ hướng dẫn nêu trên, các khoản thu nhập nhận được bằng tiền, bằng hiện vật, thu nhập từ các khoản hỗ trợ, hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán, thưởng khuyến mãi và các khoản hỗ trợ khác không phát sinh trực tiếp từ việc sản xuất kinh doanh của đơn vị được xác định là các khoản thu nhập chịu thuế TNDN và các khoản này không thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi về thuế TNDN theo quy định tại điểm 2.6, mục I, phần H, Thông tư 130”. C không có đăng ký hoạt động tín dụng hay hoạt động tài chính. Do đó, khoản tiền lãi cho C1 vay khi thu được phải xác định là thu nhập khác chứ không phải là doanh thu tài chính và chưa hạch toán vào tài khoản thu nhập khác (do chưa thu được tiền) là đúng quy định.
Ngày 01/9/2017, C tiếp tục có đơn khởi kiện bổ sung đối với Quyết định số: 744/QĐ-CT ngày 09/4/2014 (Quyết định 744) và Quyết định số: 125/QĐ-CT ngày 02/03/2017 (Quyết định 125) của Cục T. Trong đó một phần của Điều 1, Điều 2 Quyết định 744 và Điều 2 của Quyết định 125 là không đúng quy định của Luật thuế TNDN. Vì vậy, C bổ sung yêu cầu khởi kiện về 02 quyết định trên.
Ngày 28/7/2018, C tiếp tục có đơn khởi kiện bổ sung như sau: Về việc truy thu thuế TNDN (đối với tiền lãi cho vay chưa thu được). Căn cứ biên bản thanh tra năm 2010, 2011, 2012 ngày 28/02/2014 của Đoàn thanh tra Cục Thuế. Cục trưởng Cục T đã ban hành Quyết định 333, về việc xử lý vi phạm thuế qua thanh tra việc chấp hành pháp luật thuế. Trong đó: Truy thu thuế TNDN: 640.240.061đ; Phạt khai sai thuế TNDN 10%: 64.024.606đ; Phạt chậm nộp thuế TNDN: 93.926.633đ. Thời hạn nộp 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này, nếu nộp chậm sẽ bị phạt tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật. Không đồng ý với quyết định của Cục T ngày 18/6/2014 C đã khiếu nại. Từ ngày khiếu nại đến nay Cục T có 04 Quyết định gồm: Quyết định 649a; Quyết định 744; Quyết định 125 và Quyết định số 610/QĐ-CT ngày 28/5/20118 (Quyết định 610). Do, các biên bản thanh tra năm 2010, 2011, 2012 của Đoàn thanh tra Cục Thuế tỉnh Đ đã trích dẫn quy định của văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp để xử lý. Vì vậy, các quyết định tiếp theo nói trên của Cục T có nội dung liên quan đến truy thu, phạt khai sai, phạt chậm nộp thuế TNDN đối với C đều không đúng. Năm 2010, 2011 và 2012, Cty KT có cho C1 vay số tiền 11 tỷ đồng, lãi suất 0,875% nhưng chưa thu được tiền lãi. Căn cứ quy định tại khoản 5 mục V, phần C Thông tư 130 Cty KT xác định hoạt động cho vay này là “thu nhập khác” vì không thuộc ngành nghề đã đăng ký kinh doanh. Căn cứ tiết c điểm 1 phần quy định chung chuẩn mực số 14 Danh thu và Thu nhập khác (Ban hành công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BCT ngày 31/12/2001 của Bộ T3 thì tiền lãi cho vay phải là tiền thu nhập được. Do đó, Cty KT chưa hạch toán khoản tiền lãi cho vay chưa thu được vào tài khoản thu nhập khác để tính thuế đúng quy định. Tuy vậy, theo biên bản Thanh tra của Cục T kết luận việc chưa hạch toán của C như vậy là sai, nhưng lại dẫn chứng những quy định không phù hợp để xử lý như sau: Từ năm 2010, 2011 và 2012 Cty KT có doanh thu mỗi năm là 1.155.000.000đ (từ việc do cho C1 vay 11 tỷ đồng lãi suất 0,875%/tháng) nhưng trong năm doanh nghiệp không hạch toán khoản tiền lãi này vào “D thu tài chính”, vi phạm vi định tại khoản 5, mục V, phần C, Thông tư 130. Việc kết luận này là hoàn toàn không phù hợp, vì không có quy định nào nói “thu nhập khác” phải hoạch toán vào “danh thu tài chính” và khoản 5, mục V, phần C Thông tư 130 chỉ hướng dẫn xác định thu nhập khác, thì vi phạm như thế nào. Ngày 15/8/2014, Cục T có Quyết định 469a giải quyết khiếu nại trích dẫn thêm căn cứ điểm 1, khoản 2 Điều 5 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ T3 quy định (Thông tư 123): “Doanh thu để tính thuế thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền” và căn cứ điểm 3.6, khoản 3, Mục III phần C Thông tư 130 và điểm g, khoản 3, Điều 5 Thông tư 123 của Bộ T3 hướng dẫn doanh thu tính thuế thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp như sau: “Đối với hoạt động tín dụng, hoạt động cho thuê tài chính là tiền lãi cho vay, doanh thu về cho thuê tài chính phải thu trong kỳ tính thuế”. Việc trích dẫn căn cứ này cũng không đúng vì các quy định này chỉ áp dụng đối với “doanh thu” còn hoạt động cho vay của Công ty là “Thu nhập khác” và Thông tư này chỉ có hiệu lực năm 2012 về sau. Tại chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu” và “Thu nhập khác” (ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ T3 nói rõ “Doanh thu” và “Thu nhập khác” là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau nên không thể căn cứ vào quy định “doanh thu” để xử lý “thu nhập khác”.
Về việc chi thưởng lương tháng 13 cho công nhân lao động. Căn cứ khoản 1, Mục IV phần C Thông tư 130 quy định các khoản chi phí được trừ như sau: “1. Trừ các khoản chi nêu tại khoản 2, Mục này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
1.1. Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp K2;
1.2. Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.”
Năm 2010, Cty KT xác định có lãi cao nên chi thưởng 3 tháng lương cho công nhân (theo ký kết hợp đồng lao động) số tiền 1.056.000.000đ nhưng không trích lại tiền thuế TNCN theo quy định nên xử lý truy thu thuế TNCN 21.066.688đ phạt khai sai 2.106.669đ (việc xử phạt này Cty KTđã chấp nhận). Ngoài ra, Đoàn Thanh tra xác định lại và chuyển chi phí vốn đổi ngoại tệ năm 2011 sang năm 2010 làm cho lãi năm 2010 giảm xuống chỉ còn 635.229.205đ (ngược lại làm cho lãi năm 2011 tăng lên tương ứng với số lãi giảm năm 2010) do đó chỉ chấp nhận số tiền chi thưởng tháng 13 năm 2010 cho công nhân là 635.229.205đ không chấp nhận đưa vào chi phí số tiền 420.770.795đ nhưng cũng không cho chuyển sang năm 2011. Theo biên bản Thanh tra không chấp nhận số tiền chi thưởng vượt trong năm 2010 và không cho chuyển sang năm 2011 là căn cứ tiết a, điểm 2.5, khoản 2, Mục IV, phần C Thông tư 130 “Chi tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán khác để trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật”. Cục Thuế căn cứ trích dẫn quy định này là không phù hợp trong trường hợp này C khẳng định việc chi thưởng có đầy đủ chứng từ theo quy định. Việc chi thưởng cho công nhân theo hợp đồng lao động gắn liền với lợi nhuận của Cty KT, việc Đoàn Thanh tra chuyển chi phí năm 2010 giảm xuống và lợi nhuận năm 2011 tăng lên tương ứng nhưng không chuyển phần tiền thưởng cho công nhân vượt năm 2010 sang năm 2011, cũng không cho Cty KT thu hồi lại tiền này mà truy thu thuế TNCN trên cả số tiền chi vượt và cũng không dẫn chứng quy định nào là không đúng. Về thuế GTGT đối với QĐ 610 biên bản thanh tra, năm 2010 kết luận số thuế GTGT được khấu trừ giảm 133.083.708đ. Trong đó: Hàng hóa mua vào trên 20 triệu đồng không thanh toán qua Ngân hàng 5.091.800đ. 28 bộ hồ sơ xuất khẩu không có chữ ký và đóng dấu bên mua 94.310.469đ. Không có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng do bên mua còn nợ 3.983.587đ, người thứ ba thanh toán không thể hiện trong hợp đồng 29.697.852đ.
Năm 2011, giảm số thuế GTGT được khấu trừ 45.527.349đ (Do bên mua thanh toán qua người thứ ba nhưng không thể hiện trong hợp đồng). Năm 2012 giảm số thuế GTGT được khấu trừ 78.225.733đ. Trong đó: Không có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng do bên mua còn nợ 5.180.394đ. Thanh toán qua người thứ ba không thể hiện trên hợp đồng 73.045.339đ. Trên cơ sở đó Cục thuế ra Quyết định 333 truy thu số tiền thuế GTGT 67.216.605đ phạt khai sai 10% là 6.721.661đ và phạt chậm nộp 38.145.423đ trên số tiền bị truy thu. Giảm số thuế GTGT được khấu trừ 123.753.082đ = (45.527.349đ năm 2011 + 78.225.733đ năm 2012). Ngày 02/3/2017, Cục T có Quyết định 125 chấp thuận cho khấu trừ thuế GTGT của 28 trường hợp xuất khẩu không có chữ ký và đóng dấu bên mua số tiền 94.310.469đ. Ngày 28/6/2018, Cục T có Quyết định 610 điều chỉnh Quyết định 333 có nội dung như sau: Điều 1: “Giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ là 24.262.219đ”. Điều 2: “Các nội dung khác của Quyết định số 333/QĐ-CT được giữ nguyên”. Như đã nói ở trên thuế GTGT của 28 bộ hồ sơ xuất khẩu Đoàn thanh tra không chấp nhận khấu trừ được năm 2010 và cũng là nguyên nhân để Cục Thuế ra Quyết định 333 xử lý truy thu và phạt thuế GTGT; giảm số thuế GTGT khấu trừ 123.753.082đ thuộc năm 2011 và năm 2012. Nhung khi được chấp nhận cho khấu trừ thì Cục T không tính từ năm 2010 để điều chỉnh thuế GTGT truy thu, tiền phạt mà giảm thuế GTGT không được khấu trừ 2011 và 2012 là không đúng. Tại phiên tòa Cty KT thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy một phần của các quyết định sau: Hủy một phần Quyết định 333 là 1 phần của Điều 1 gồm các nội dung sau: Truy thu thuế TNDN: 640.240.606đ (Khoản 1); Phạt khai sai 10% thuế TNDN: 64.024.061đ (Khoản 3.1); Tiền chậm nộp thuế TNDN: 93.926.663đ (Khoản 3.2). Huỷ một phần Quyết định 649a là 1 phần của Điều 2 có nội dung: “Đình chỉ giải quyết khiếu nại về truy thu thuế TNDN đối với doanh thu mỗi năm 2010, 2011, 2012 là 1.155.000.000đ từ việc cho C1 vay 11 tỷ đồng lãi suất 0,875%/tháng nhưng không hạch toán vào doanh thu tài chính. Hủy một phần Quyết định số 744/QĐ-CT ngày 09/4/2014 là hủy Điều 2: “Các nội dung khác của Quyết định 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 của Cục Thuế tỉnh Đ được giữ nguyên không thay đổi”. Yêu cầu được công nhận đối với số tiền 1.056.000.000đ chi thưởng lương tháng 13 cho công nhân (trước đó Cục thuế chỉ chấp nhận 635.229.205đ còn lại số tiền 420.770.795đ Cty KT xin được chuyển qua năm 2011 nhưng không được chấp nhận).
* Theo văn bản ý kiến số 32 ngày 07/01/2015; số 866 ngày 09/6/2015; số 1927 ngày 19/9/2016; số 1645 ngày 30/6/2017; số 2335 ngày 03/10/2017; số 225 ngày 30/01/2018; số 1249 ngày 08/6/2018 và số 1922 ngày 30/8/2018 của người bị kiện Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là ông Đoàn Hữu H trình bày:
Căn cứ quy phạm pháp luật và cơ sở pháp lý để Cục thuế tỉnh Đ ban hành Quyết định 333, về việc xử lý vi phạm về thuế qua thanh tra chấp hành pháp luật thuế tại C; Quyết định 649a về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Thiện Đ, Giám đốc C; Quyết định 744; Quyết định 125 về việc giải quyết khiếu nại bổ sung và Quyết định 610 của Cục trưởng Cục T về việc điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ Quyết định 333.
Căn cứ quy phạm pháp luật: Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006; Căn cứ Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Căn cứ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Căn cứ Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T3 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng; Căn cứ Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T3 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP; Căn cứ Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ T3 hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân; Căn cứ Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005.
Về cơ sở pháp lý: Căn cứ kết luận thanh tra thuế số 642/KL-CT ngày 26/4/2014. Nội dung khiếu nại xử lý vi phạm về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân qua thanh tra chấp hành pháp luật thuế tại C: Về xử lý truy thu thuế TNDN đối với doanh thu mỗi năm (2010, 2011, 2012) là 1.155.000.000đ từ việc cho C1 vay 11 tỷ đồng lãi suất 0,875%/tháng nhưng không hạch toán doanh thu tài chính.
Căn cứ tại điểm 1, khoản 1, mục III, phần C Thông tư 130 và khoản 1, Điều 5 Thông tư 123 của Bộ T3 hướng dẫn doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau: “Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”.
- Căn cứ tại điểm 3.6, khoản 3, mục III, phần C Thông tư 130 và điểm g, khoản 3, Điều 5 Thông tư 123 của Bộ T3 hướng dẫn doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp xác định như sau: “Đối với hoạt động tín dụng, hoạt động cho thuê tài chính là tiền lãi cho vay, doanh thu về cho thuê tài chính phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế”.
- Căn cứ tại khoản 5, mục V, phần C Thông tư 130 và khoản 6, Điều 7 Thông tư 123 của Bộ T3 hướng dẫn thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập sau: “Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn bao gồm: lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng cho vay vốn”.
Theo quy định trên, C vay vốn ngân hàng với mục đích sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm gốm sứ nung, Công ty hạch toán tiền lãi vay ngân hàng vào chi phí của Cty KT nhưng Cty KT lại không sử dụng vào sản xuất kinh doanh mà cho C1 vay 11 tỷ đồng, lãi suất 0,875%/tháng từ ngày 20/8/2009 và 21/8/2009, nhưng C không hạch toán khoản tiền lãi cho vay vào doanh thu hoạt động tài chính để xác định thu nhập chịu thuế năm 2010, 2011, 2012 (doanh thu mỗi năm là 1.155.000.000đ), để kê khai quyết toán thuế TNDN là không đúng quy định tại các quy định pháp luật sau: (Đ, khoản 1, mục III, Phần C Thông tư 130; Điểm 3 (3.6), khoản 3, mục III, Phần C Thông tư 130; Khoản 5, mục V, Phần C Thông tư 130; Điểm g, khoản 3, Điều 5 và khoản 6, Điều 7 Thông tư 123 của Bộ T3. Nên Cục Thuế xử lý khoản tiền lãi cho vay mỗi năm 1.155.000.000đ (từ năm 2010, 2011, 2012) đưa vào doanh thu tài chính và hạch toán thu nhập khác để tính thuế thu nhập doanh nghiệp là đúng quy định. Việc Công ty D1 điểm 13, mục V, Phần C Thông tư 130 là không phù hợp, vì tại mục V “Thu nhập khác” bao gồm 20 khoản trong đó điểm 5 nói về thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay, còn điểm 13 nói về thu nhập từ quà biếu, quà tặng, đây là 02 khoản “thu nhập khác” khác nhau và cách xác định thu nhập để kê khai thuế cũng khác nhau, không thể hiểu và lấy cách xác định thu nhập khác là quà biếu, quà tặng để áp dụng đối với thu nhập khác là lãi cho vay được. Về xử lý truy thu thuế thu nhập cá nhân năm 2010 là: 21.066.688 đồng.
Căn cứ tại điểm a, khoản 1, Điều 24 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 quy định như sau: “Điều 24. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trả thu nhập và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú.
1. Trách nhiệm kê khai, khấu trừ, nộp thuế, quyết toán thuế được quy định như sau:
a/ Tổ chức, cá nhân trả thu nhập có trách nhiệm kê khai, khấu trừ, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước và quyết toán thuế đối với các loại thu nhập chịu thuế trả cho đối tượng nộp thuế”.
- Căn cứ tiết 2.1.6, điểm 2.1, khoản 2, mục II “Các khoản thu nhập chịu thuế” Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ T3, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân như sau: “2.1.6. Các khoản thưởng như tháng, quý, năm, thưởng đột xuất, thưởng tháng lương thứ 13 bằng tiền hoặc không bằng tiền (kể cả thưởng bằng chứng khoán) trừ một số khoản tiền thưởng quy định tại điểm 2.3. Trường hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu thì giá trị thưởng được xác định theo mức thưởng ghi trên sổ sách kế toán của đơn vị trả lương.”
Theo quy định trên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập có trách nhiệm kê khai, khấu trừ, nộp thuế vào ngân sách nhà nước và quyết toán thuế đối với các loại thu nhập chịu thuế trả cho đối tượng nộp thuế.
Trường hợp năm 2010 Cty có chi trả lương tháng 13 cho nhân viên (thưởng năm 2010) theo phiếu chi số 147 ngày 31/12/2010, số tiền là 1.056.000.000đ nhưng Cty KT không kê khai, khấu trừ, nộp thuế vào ngân sách nhà nước và quyết toán thuế đối với các loại thu nhập chịu thuế trả cho nhân viên nên Cục thuế tỉnh Đ xử lý truy thu thuế thu nhập cá nhân năm 2010 là 21.066.688đ đối với số tiền lương tháng 13 đã thực chi cho nhân viên là đúng quy định.
Đối với trường hợp Cty KT khởi kiện bổ sung yêu cần hủy khoản 2, 3 và 4 Điều 1 và Điều 2 của Quyết định 744. Trường hợp này, Cục T nhận thấy C khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy khoản 2, 3 và 4 Điều 1 của Quyết định 744 là không đúng, có thể Cty KT hiểu nhằm, bởi vì: Quyết định 744 ban hành trên cơ sở căn cứ Quyết định 649a, Cục T chấp nhận cho C được khấu trừ thuế GTGT đầu vào là 5.180.394đ, cụ thể trường hợp này như sau: Qua kết quả Thanh tra thuế, do năm 2012 Cty KT xuất khẩu hàng hóa, nhưng bên nhập khẩu còn nợ chưa thanh toán nên Cty KT không có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng. Do đó, Cty KT không đủ điều kiện được khấu trừ thuế GTGT đầu vào là 5.180.394đ theo quy định tại điểm C.3, khoản 1.3, mục II, phần B của Thông tư 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T3 (Thông tư 129). Nhưng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, căn cứ theo quy định thì được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp, nên biên bản thanh tra thuế đã đưa thuế GTGT đầu vào 5.180.394đ vào chi phí (tăng giá vốn) để tính thuế thu nhập doanh nghiệp, dẫn đến số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2012 giảm 906.569đ (5.180.394 đ X 25% X 30%). Khi giải quyết đơn khiếu nại, C có cung cấp bổ sung chứng từ thanh toán qua Ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu này, nên qua xem xét Cục Thuế chấp nhận cho C được khấu trừ thuế GTGT đầu vào là 5.180.394đ. Do đó, tất nhiên số thuế GTGT đầu vào 5.180.394đ này không được hạch toán vào chi phí (Giải thích: Về 25% là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp: về 30% là giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với DN nhỏ và vừa để trợ giúp phát triển kinh doanh theo quy định của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ và Thông tư số 154/2001/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ T3) để tính thuế thu nhập doanh nghiệp, nên dẫn đến điều chỉnh tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 906.569đ (5.180.394đ X 25% X 30%) và xử lý phạt về hành vi thiếu thuế, tính chậm nộp tiền thuế theo quy định pháp luật về thuế. Riêng về trường hợp C yêu cầu hủy toàn bộ Điều 2 Quyết định 744: “Điều 2. Các nội dung khác của QĐ 333 được giữ nguyên không thay đổi”. Nội dung này có liên quan đến vụ việc Cty KT đã khởi kiện vừa qua, Cục T đã có gửi văn bản ý kiến và cung cấp hồ sơ, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án ND tỉnh Đồng Tháp đang xem xét giải quyết. Đối với trường hợp Cty KT khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy Điều 2 của Quyêt định số 125/QĐ-CT ngày 02/3/2017 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ (Quyết định 125).
Ngày 02/3/2017, Cục T ban hành Quyết định 125, về việc giải quyết khiếu nại của C (bổ sung tiếp quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu), với lý do như sau: Khi xem xét giải quyết khiếu nại lần đầu đối với C, có phát sinh 02 trường hợp vướng mắc về chính sách thuế GTGT nên Cục T phát hành văn bản báo cáo xin ý kiến của Tổng cục T5 (Công văn số 1271/CT-KTNB ngày 14/8/2014 của Cục T và Công văn nhắc lại số 1342/CT-KTNB ngày 29/6/2016). Cụ thể trường hợp vướng mắc như sau: Hợp đồng mua, bán hàng hóa giữa Cty KT (bên xuất khẩu) với khách hàng nước ngoài, nhưng không có chữ ký của khách hàng nước ngoài (bên nhập khẩu) trên hợp đồng (gồm 28 hợp đồng, tổng giá trị tiền hàng là 210.617,38 USD, tương ứng với số tiền thuế GTGT đầu vào kê khai khấu trừ là 94.310.469đ). Chứng từ chuyển khoản thanh toán tiền hàng hóa xuất khẩu do bên thứ ba thực hiện thanh toán, nhưng không có quy định trong hợp đồng xuất khẩu (gồm 37 trường hợp, tổng giá tiền hàng là 251.573,07 USD, tương ứng với số tiền thuế GTGT đầu vào kê khai khấu trừ là 148.270.540đ). Do vậy, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu Quyết định 649a, Cục T tạm thời chưa kết luận kết quả giải quyết khiếu nại đối với 02 trường hợp vướng mắc nêu trên, chờ ý kiến hướng dẫn, chỉ đạo của Tổng cục T5. Ngày 26/01/2015, Tổng cục T5 có Công văn số 311/TCT-CS trả lời cho Cục T về trường hợp của C. Trên cơ sở, căn cứ theo quy định như: Điều 24, điều 27 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005; điểm 1.3 (c3), mục III Phần B Thông tư 129; Điều 9, Điều 16 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ T3 (Thông tư 06); Công văn số 311/TCT- CS ngày 26/01/2015 của Tổng cục T5 và kết quả xác minh hồ sơ xuất khẩu liên quan. Qua xem xét, Cục T ban hành Quyết định 125 về việc giải quyết khiếu nại của C (bổ sung tiếp quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu). Kết quả giải quyết như sau: Về trường hợp Hợp đồng mua, bán hàng hóa giữa Cty KT (bên xuất khẩu) với khách hàng nước ngoài, nhưng không có chữ kỷ của khách hàng nước ngoài (bên nhập khẩu) trên hợp đồng (gồm 28 hợp đồng, tổng giá trị tiền hàng là 210.617,38 USD, tương ứng với số tiền thuế GTGT đầu vào kê khai khấu trừ là 94.310.469đ): Cục Thuế công nhận nội dung khiếu nại của C đối với trường hợp này, tức là chấp nhận cho Cty KT được khấu trừ số tiền thuế GTGT đầu vào 94.310.469đ. Về trường hợp chứng từ chuyển khoản thanh toán tiền hàng hóa xuất khẩu do bên thứ ba thực hiện thanh toán, nhưng không có quy định trong hợp đồng xuất khẩu (gồm 37 trường hợp, tổng giá tiền hàng là 251.573,07 USD, tương ứng với số tiền thuế GTGT đầu vào kê khai khấu trừ là 148.270.540đ): Cục Thuế không công nhận nội dung khiếu nại của Cty KT đối với trường hợp này, tức là không chấp nhận cho Cty được khấu trừ số tiền thuế GTGT đầu vào 148.270.540đ, do C thực hiện không đúng theo quy định tại điểm 1.3 (c3), mục III Phần B Thông tư 129 và điểm b.3, khoản 6, Điều 16 Thông tư 06: “Trường hợp phía nước ngoài uỷ quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán thì việc thanh toán theo uỷ quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng, nếu có”. Trường hợp của C, Cục T khẳng định việc thực hiện giải quyết đối với Cty KT là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật về thuế, có cơ sở căn cứ và có xem xét thực tế để tạo điều kiện khuyến khích cho C phát triển sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân Quyết định 610, điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ, mà không điều chỉnh giảm số thuế GTGT truy thu, là do: Sau khi Cục Thuế ban hành Quyết định 333 đến thời điểm ban hành Quyết định 610. C chưa thực hiện khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ theo quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 10 Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ T3 (đã nêu tại mục 1). Số tiền thuế GTGT truy thu: 67.216.605đ theo Quyết định 333, do xử lý liên quan đến nhiều trường hợp không đủ điều kiện được khấu trừ thuế GTGT, như: Mua hàng hóa có giá trị trên 20 triệu đồng không có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng theo quy định (số thuế GTGT: 5.091.800đ); Chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua người thứ ba (số thuế GTGT: 29.697.852đ); Không có chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu (số thuế GTGT: 3.983.587đ); Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp (số thuế GTGT: 94.310.469đ). Đồng thời, số tiền thuế GTGT truy thu 67.216.605đ, C đã thực hiện nộp đủ vào Ngân sách Nhà nước (ngày 19/5/2014) và C đã đề nghị hoàn thuế GTGT từ kỳ thuế tháng 08/2009 đến tháng 07/2016, Cục thuế đã hoàn thuế cho C. Nếu điều chỉnh số thuế GTGT chấp nhận được khấu trừ đối với trường hợp Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp tại nội dung xử lý truy thu thuế GTGT của Quyết định 333 thì sẽ xác định, tính toán chi tiết cụ thể lại (do số thuế GTGT chấp nhận được khấu trừ này chỉ một phần trong tổng số tiền thuế GTGT truy thu) và liên quan đến số thuế GTGT của các năm 2011, 2012, liên quan đến thủ tục hồ sơ hoàn thuế. Vì vậy, Cục T thực hiện điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ như nêu trên là phù hợp. Cục T nhận thấy nội dung khiếu kiện bổ sung này là do giữa Cục thuế và Công ty chưa có gặp gỡ để giải thích rõ về trường hợp điều chỉnh số thuế GTGT chấp nhận được khấu trừ. Do đó, Cục trưởng Cục T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C.
Nội dung đơn khiếu kiện bổ sung ngày 28/7/2018 của Giám đốc C khởi kiện bổ sung đối với Quyết định 610, về việc điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ Quyết định 333. Do đó, về trường hợp xử lý thuế GTGT theo Quyết định 333. Qua kết quả Thanh tra thuế, Cục T ban hành Quyết định 333, xử lý vi phạm thuế đối với C. Tổng số tiền thuế truy thu (thuế GTGT, TNDN, TNCN) là 733.660.801đ, giảm số tiền thuế GTGT còn được khấu trừ là 123.753.082đ, xử phạt 10% hành vi thiếu thuế là 73.366.081đ và chậm nộp tiền thuế là 145.085.445đ. Cụ thể, do: Cty KT mua hàng hóa có giá trị trên 20 triệu đồng, nhưng không có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng theo quy định, phát sinh năm 2010, tương ứng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 5.091.800đ. (Trường hợp này Công ty không khiếu kiện). Chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua người thứ ba, nhưng không có ghi trong hợp đồng theo quy định, gồm 37 hồ sơ, tương ứng tổng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 148.270.540đ. Trong đó, phát sinh năm 2010: 10 hồ sơ, tương ứng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 29.697.852đ, năm 2011: 07 hồ sơ, tương ứng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 45.527.349đ. năm 2012: 20 hồ sơ, tương ứng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 73.045.339đ. (Trường hợp này Công ty không khiếu kiện). Không có chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu, do bên nhập khẩu mất khả năng thanh toán, gồm 02 hồ sơ, tương ứng tổng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 9.163.981đ. Trong đó, phát sinh năm 2010: 01 hồ sơ, tương ứng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 3.983.587đ, năm 2012: 01 hồ sơ, tương ứng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 5.180.394đ (Trường hợp này, khi giải quyết khiếu nại Cục Thuế đã chấp nhận cho C được khấu trừ thuế GTGT 5.180.394đ, theo quyết định điều chỉnh số 744, đồng thời Cty KT không khiếu kiện trường họp này). Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp (không có chữ ký và đóng dấu xác nhận bên nhập khẩu trên hợp đồng), gồm 28 hồ sơ, phát sinh năm 2010, tương ứng số tiền thuế GTGT không được khấu trừ là 94.310.469đ. (C khiếu kiện bổ sung trường hợp này).
Như vậy, qua kết quả thanh tra 03 năm (2010, 2011, 2012) xử lý tổng số thuế GTGT không đủ điều kiện được khấu trừ là 256.836.790đ. Trong đó: Năm 2010: Tổng số thuế GTGT không đủ điều kiện được khấu trừ là 133.083.708đ, nhưng do số thuế GTGT theo C kê khai cuối năm còn khấu trừ là 65.867.103đ, nên sau khi bù trừ thì Công ty phát sinh số thuế GTGT phải nộp là 67.216.605đ (133.083.708đ
- 65.867.103đ). Năm 2011: Tổng số thuế GTGT không đủ điều kiện được khấu trừ là 45.527.349đ, nhưng do số thuế GTGT theo C kê khai cuối năm còn khấu trừ là 474.591.384đ, nên sau khi bù trừ thì Cty KT vẫn còn số thuế GTGT còn được khấu trừ (âm thuế) là 363.196.932đ, không phát sinh số thuế GTGT phải nộp. Năm 2012: Tổng số thuế GTGT không đủ điều kiện được khấu trừ là 78.225.733đ, nhưng do số thuế GTGT theo Công ty kê khai cuối năm còn khấu trừ là 608.592.314đ, nên sau khi bù trừ thì Cty KT vẫn còn số thuế GTGT còn được khấu trừ (âm thuế) là 418.972.129đ, không phát sinh số thuế GTGT phải nộp. Từ đó, Cục T ban hành Quyết định số 333, xử lý về số thuế GTGT như sau: Truy thu thuế GTGT: 67.216.605đ và xử phạt 10% về hành vi thiếu thuế: 6.721.661đ, tính chậm nộp tiền thuế: 38.145.423đ, do năm 2010 sau khi bù trừ số thuế GTGT kê khai còn khấu trừ, phát sinh số thuế GTGT phải nộp. Giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ: 123.753.082đ (45.527.349đ + 78.225.733đ), do năm 2011, 2012 sau khi bù trừ số thuế GTGT kê khai còn khấu trừ, vẫn còn âm thuế, không phát sinh số thuế GTGT phải nộp, nên không xử lý truy thu thuế chỉ giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ theo kê khai của C. Tuy nhiên, sau khi Cục T ban hành Kết luận thanh tra và Quyết định xử lý về thuế. C không thực hiện khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ: 123.753.082đ theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 10 Thông tư 156.
Về kết quả giải quyết khiếu nại theo Quyết định 649a và Quyết định 125: Kết quả giải quyết khiếu nại theo Quyết định 649a. Chấp nhận cho C được khấu trừ số tiền thuế GTGT: 5.180.394đ (năm 2012) đối với trường hợp chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu, do trong thời gian xem xét giải quyết khiếu nại, Cty KT có cung cấp bổ sung chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu. (Còn 02 trường hợp Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp và chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua người thứ ba, Cục Thuế tạm thời chưa kết luận giải quyết do vướng mắc về chính sách thuế nên báo cáo xin ý của Tống Cục T). Do đó, Cục T ban hành Quyết định 744 điều chỉnh Quyết định 333 như sau: Tăng số thuế GTGT được khấu trừ là 5.180.394đ, điều chỉnh tại nội dung “Giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ: 123.753.082đ” của Quyết định 333. Tăng số thuế TNDN phải nộp là 906.569đ và tiền phạt, tiền chậm nộp: 242.054đ. Do, căn cứ theo quy định, trường hợp số tiền thuế GTGT không đủ điều kiện được khấu trừ thì được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp, nên biên bản thanh tra thuế (năm 2012) đã tính số tiền thuế GTGT 5.180.394đ không được khấu trừ này vào chi phí (tăng giá vốn) để tính thuế thu nhập doanh nghiệp, dẫn đến số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2012 giảm 906.569đ. Nhưng khi xem xét giải quyết khiếu nại, Cục T chấp nhận cho C được khấu trừ thuế GTGT 5.180.394đ nên phải điều chỉnh tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 906.569đ và xử phạt, tính chậm nộp thuế theo quy định. Kết quả giải quyết khiếu nại (bổ sung) theo Quyết định 125. Sau khi nhận được công văn trả lời hướng dẫn của Tổng cục T5 đối với 02 trường hợp Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp và Chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua người thứ ba. Qua xem xét, Cục T chấp nhận cho C được khấu trừ số thuế GTGT 94.310.469đ đối với trường hợp Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp liên quan đến 28 hồ sơ xuất khẩu. Còn trường hợp Chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua người thứ ba liên quan đến 37 hồ sơ xuất khẩu thì không đủ điều kiện được khấu trừ thuế GTGT theo quy định là 148.270.540đ. Do đó, Cục T ban hành Quyết định 610 điều chỉnh Quyết định 333 như sau: Giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ là 24.262.219đ, điều chỉnh tại nội dung “Giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ: 123.753.082đ” của Quyết định 333. Do, qua 02 lần giải quyết khiếu nại, Cục T chấp nhận cho C được khấu trừ số thuế GTGT là 99.490.863đ (5.180.394đ + 94.310.469đ). Vì vậy, C chỉ còn điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ là 24.262.219đ (123.753.082đ - 99.490.863đ).
Nguyên nhân Quyết định 610, điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ, mà không điều chỉnh giảm số thuế GTGT truy thu, là do: Sau khi Cục Thuế ban hành Quyết định 333 đến thời điểm ban hành Quyết định 610. C chưa thực hiện khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 10 Thông tư 156 (đã nêu tại mục 1). Số tiền thuế GTGT truy thu: 67.216.605đ theo Quyết định 333, do xử lý liên quan đến nhiều trường hợp không đủ điều kiện được khấu trừ thuế GTGT, như: Mua hàng hóa có giá trị trên 20 triệu đồng không có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng theo quy định (số thuế GTGT: 5.091.800đ); Chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua người thứ ba (số thuế GTGT: 29.697.852đ); Không có chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu (số thuế GTGT: 3.983.587đ); Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp (số thuế GTGT: 94.310.469đ). Đồng thời, số tiền thuế GTGT truy thu 67.216.605đ, Công ty đã thực hiện nộp đủ vào NSNN (ngày 19/5/2014) và Công ty đã đề nghị hoàn thuế GTGT từ kỳ thuế tháng 08/2009 đến tháng 07/2016, Cục thuế đã hoàn thuế cho Công ty. Nếu điều chỉnh số thuế GTGT chấp nhận được khấu trừ đối với trường hợp Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa không hợp pháp tại nội dung xử lý truy thu thuế GTGT của Quyết định 333 thì sẽ xác định, tính toán chi tiết cụ thể lại (do số thuế GTGT chấp nhận được khấu trừ này chỉ một phần trong tổng số tiền thuế GTGT truy thu) và liên quan đến số thuế GTGT của các năm 2011, 2012, liên quan đến thủ tục hồ sơ hoàn thuế. Vì vậy, Cục T thực hiện điều chỉnh giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ như nêu trên là phù hợp. Cục T nhận thấy nội dung khiếu kiện bổ sung này là do giữa Cục thuế và Công ty chưa có gặp gở để giải thích rõ về trường hợp điều chỉnh số thuế GTGT chấp nhận được khấu trừ.
Theo đơn khiếu kiện bổ sung ngày 28/7/2018 của C. Về việc truy thu thuế TNDN đối với tiền lãi cho vay. Căn cứ khoản 3 Điều 8 Nghi đinh số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp”. Căn cứ điểm 3.6, khoản 3 Mục III Phần c Thông tư 130, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp...quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp”. Tại khoản 1, Điều 5 Thông tư 123 hướng dẫn về doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như sau: “Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”. Căn cứ Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ T3 về việc ban hành Chế độ Kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại phần thứ hai Hệ thống Tài khoản kế toán quy định về Doanh thu hoạt động tài chính (Tài khoản 515): “Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.Doanh thu hoạt động tài chính gồm:Tiền lãi: Lãi cho vay, lãi tiền gửi Ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng hóa, dịch vụ... Các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác, hạch toán tài khoản này cần tôn trọng một số quy định sau: Doanh thu hoạt động tài chính được phản ánh trên Tài khoản 515 bao gồm các khoản doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác được coi là thực hiện trong kỳ, không phân biệt các khoản doanh thu đó thực tế đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.Căn cứ điểm c khoản 02, chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác (ban hành kèm theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Trưởng Bộ T3 quy định.Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức lợi nhuận được chia. Tiền lãi: Là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tiền, các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp, như: Lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán... Căn cứ các quy định nêu trên và Điều 13 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm pháp luật về thuế..., Cục T đã ban hành Quyết định 333 xử lý vi phạm về thuế đối với C là đúng pháp luật.
Về quy định của văn bản quy phạm pháp luật đối với Thu nhập khác: “Tại điểm 5. T1 nhâp từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn và điểm 13. Thu nhập là Q biếu, quà tặng bằng tiền, bằng hiện vật, của Mục V1. thu nhập khác Thông tư 130, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp... quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp”. Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề lĩnh vực kinh doanh có trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quy định trên thì việc xác định thu nhập khác từ lãi cho vay vốn với thu nhập khác từ quà biếu, quà tặng là hoàn toàn khác nhau; Vì vậy, việc Công ty C2 số 2474/TCT-CS ngày 19/7/2011 của Tổng cục T5 trả lời riêng cho Cục Thuế tỉnh K, V/v xác định các khoản thu nhập khác đối với quà biếu, quà tặng bằng tiền để cho rằng thu nhập khác là tiền lãi cho vay khi nhận được mới kê khai nộp thuế là không đúng quy định nêu trên. Ngoài ra, trong Đơn khiếu kiện bổ sung ngày 28/7/2018 của Công ty tại nội dung trang 2, khi căn cứ, chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác (ban hành kèm theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Trưởng Bộ T3); Công ty G không đúng và không đầy đủ quy định này cụ thể như sau: Công ty ghi là: “Căn cứ tiết c, điểm 1, phần quy định chung chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác (ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Trưởng Bộ T3 thì tiền lãi cho vay phải là tiền thu được. Do đó, Cty KT chưa hạch toán khoản tiền lãi cho vay chưa thu được vào tài khoản thu nhập khác đế tính thuế đúng quy định”. Theo quy định tại điểm c khoản 02, chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác (ban hành kèm theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Trưởng Bộ T3) như sau:
Theo Kết luận Thanh tra thuế tại Cty KT số 642/KL-CT ngày 26/4/2014 của Cục T xác định tiền lãi cho vay của C là doanh thu hoạt động tài chính, phải hạch toán phản ánh vào Tài khoản 515, không phân biệt các khoản doanh thu đó thực tế đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Đồng thời, là doanh thu để tính thu nhập chịu thuế không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. (Riêng năm 2009, C có thực hiện kê khai và hạch toán số tiền lãi cho vay từ tiền cho Công tv cổ phần K3 vay vào doanh thu hoạt động tài chính (Tài khoản 515) đế xác đinh thu nhập chịu thuế. với số tiền lãi: 96.250.000đ. Từ đó cho thấy, Công ty (kế toán của Công ty) biết và hiểu rõ nghiệp vụ chế độ kế toán quy định đối với doanh thu tiền lãi cho vay là doanh thu hoạt động tài chính, hạch toán vào TK 515). Trường hợp doanh nghiệp vừa có phát sinh thu lãi tiền gừi ngân hàng, lãi cho vay vốn (bao gồm cả lãi phải thu) và vừa có phát sinh chi phí trả lãi tiền vay thì phải thực hiện bù trừ giữa tiền thu lãi cho vay với tiền trả lãi vay để xác định thu nhập chịu thuế: Nếu số tiền thu lãi cho vay lớn hơn số tiền trả lãi vay thì số tiền lãi chênh lệch này tính vào thu nhập khác để tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định. Nếu số tiền thu lãi cho vay nhỏ hơn số tiền trả lãi vay thì số tiền lãi chênh lệch này tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế, tức là không phát sinh thu nhập khác. Đối với trường hợp của C, vừa có phát sinh doanh thu tiền lãi cho vay và vừa có phát sinh chi phí trả lãi vay nhưng Cty KT không thực hiện bù trừ giữa tiền thu lãi cho vay với tiền trả lãi vay để xác định thu nhập chịu thuế (quy định tại khoản 3 Điều 1, Thông tư số 18/2011/TT- BTC ngày 10/02/2011 của Bộ T3), cụ thể như: Trong 03 năm (năm 2010, 2011, 2012). Tổng số tiền trả lãi vay cho Ngân hàng là 6.226.124.347đ, (trong đó, số tiền trả lãi tiền vay cho N hàng liên quan đến số tiền 11 tỷ cho Công ty cổ phần T4 vay là 4.798.027.088đ), C đã kê khai toàn bộ số tiền trả lãi vay vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trong 03 năm (năm 2010, 2011, 2012). Tổng số tiền lãi cho C1 vay là 3.465.000.000đ nhưng Công ty K1 không hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính và không thực hiện bù trừ với chi phí trả lãi vay để xác định thu nhập chịu thuế theo văn bản pháp luật về thuế quy định. Từ đó, dẫn đến xác định thu nhập chịu thuế TNDN sai lệch, giảm số tiền thuế TNDN là 866.250.000đ (3.465.000.000đ x 25%). Do đó, đối với trường hợp tiền lãi cho vay của C, Cục T thực hiện xử lý truy thu thuế TNDN theo Quyết định 333 là có cơ sở quy phạm pháp luật và đúng quy định của pháp luật về thuế. Trường hợp Cty KT không chấp nhận quyết định xử lý truy thu thuế TNDN từ tiền lãi cho C1 vay thì Cục Thuế tỉnh Đ sẽ loại trừ chi phí trả lãi tiền đi vay ngân hàng của C để cho C1 vay lại trong 03 năm (2010, 2011, 2012) là 4.798.027.088đ và giảm chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN của 03 năm trên vì chi phí này không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của C, không đủ điều kiện được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, quy định tại điểm 1.1, khoản 1 Mục IV Phần c Thông tư 130 của Bộ T3, đồng thời xử lý truy thu thuế TNDN do hạch toán vào chi phí khoản chi không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Về trường hợp Cty KT yêu cầu được hạch toán số tiền 420.770.795đ chi thưởng vượt năm 2010 vào chi phí được trừ năm 2011: Năm 2010, C kê khai và hạch toán chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, số tiền chi thưởng (03 tháng lương) cho nhân viên là 1.056.000.000đ. Căn cứ theo hợp đồng lao động và thỏa thuận lao động giữa Công ty ký kết với người lao động có quy định điều kiện là: Được thưởng vào cuối năm từ 01 đến 03 tháng lương khi hoạt động kinh doanh trong năm của Công ty có lãi. Theo quy định trên thì khoản chi phí tiền thưởng cho người lao động thực hiện trên cơ sở hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể của Công ty. Đối với trường hợp của C, trong năm 2010 Công ty kê khai và hạch toán chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, số tiền chi thưởng (03 tháng lương) cho nhân viên là 1.056.000.000đ. Nếu toàn bộ số tiền thưởng 1.056.000.000đ được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế sẽ dẫn đến thu nhập chịu thuế năm 2010 âm (lỗ), không phù hợp với điều kiện được thưởng (có lãi) như đã thỏa thuận ghi nhận trong hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể của Công ty. Do đó, Cục thuế đã xem xét có tình, có lý tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ người lao động tăng thêm thu nhập, ổn định cuộc sống và gắn bó với Công ty nên chấp nhận cho Công ty được tính vào chi phí hợp lý số tiền thưởng cho nhân viên là 635.229.205đ để đảm bảo thu nhập không bị lỗ là phù hợp đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể (giữa Công ty với người lao động). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngay 03/6/2008. Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính, về việc Công ty yêu cầu được hạch toán số tiền 420.770.795đ do chi thưởng vượt năm 2010 vào chi phí được trừ năm 2011 là không có cơ sở, không đúng quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp vì số tiền chi thưởng 420.770.795đ phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của kỳ tính thuế TNDN năm 2010; không phải chi phí hợp lý của năm 2011 nên Cục T không chấp nhận cho hạch toán tính vào chi phí hợp lý năm 2011 là đúng quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp nghiệp số 14/2008/QH12.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2021/HC-ST ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đã quyết định:
Căn cứ: Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 118, Điều 120, điểm b, khoản 1, Điều 143; khoản 2, Điều 173, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;
Căn cứ vào Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006; Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T3; Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T3; Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ T3.
Căn cứ khoản 3, Điều 18; khoản 1, Điều 32 Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH K.
- Hủy quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 về việc xử lý vi phạm về thuế qua thanh tra việc chấp hành pháp luật thuế của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy quyết định số 649a/QĐ-CT ngày 15/8/2014 về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Thiện Đ, giám đốc Công ty TNHH K của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định số 744/QĐ-CT ngày 09/9/2014 về việc điều chỉnh quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định số 125/QĐ-CT ngày 02/3/2017 về việc giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH K (Bổ sung tiếp Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu) của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ.
- Hủy Quyết định số 610/QĐ-CT-TTr ngày 28/5/2018 về việc điều chỉnh quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định số 193/QĐ-CT-TTr ngày 15/3/2019 về việc điều chỉnh quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 và quyết định số 610/QĐ-CT ngày 28/5/2014 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định 1320/QĐ-CT ngày 15/12/2020 về việc điều chỉnh điều 2 Quyết định số 193/QĐ-CT-TTr ngày 15/3/2019 của Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh Đ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính sơ thẩm, quyền kháng cáo.
Ngày 25/5/2021, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết những việc sau đây:
Không chấp nhận nội dung khởi kiện của Công ty TNHH K liên quan đến tiền lãi cho vay vốn.
Không chấp nhận về việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án hủy tất cả các Quyết định hành chính của Cục Thuế tỉnh Đ là không phù hợp, do có một số quyết định xử lý vi phạm thuế không liên quan đến nội dung khiếu kiện của Công ty, như: Xử lý vi phạm về thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng (điều chỉnh tăng giảm).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty K liên quan đến tiền lãi vay vốn; không chấp nhận phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên hủy tất cả các quyết định hành chính của Cục thuế tỉnh Đ.
Ngày 15/3/2023, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ có Văn bản đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/2025/HC-GĐT ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tối cao, đã quyết định:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 62/2024/KN-HC ngày 14/11/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 214/2022/HC-PT ngày 28/3/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 214/2022/HC-PT ngày 28/3/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tiến hành đúng theo quy định của luật tố tụng hiện hành, không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của người bị kiện đúng về hình thức, nội dung và nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Căn cứ theo Quyết định số 381 QĐ-BTC ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Bộ T3 và Quyết định số 904/QĐ-BTC ngày 03/3/2025 của Bộ trưởng Bộ T3 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của X thuộc Cục Thuế thì Cục thuế tỉnh Đ sáp nhập với cục T, Hậu Giang thành Chi cục thuế khu vực XIX. Do đó Chi cục thuế XIX là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính.
Về quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Công ty TNHH K khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định 333 về việc xử lý vi phạm về thuế qua thanh tra việc chấp hành luật thuế ngày 26/4/2014; Quyết định 649a ngày 15/8/2014 về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Thiện Đ, Giám đốc Công ty K1; Quyết định 744 ngày 09/9/2014 về việc điều chỉnh Quyết định số 333; Quyết định 125 ngày 02/3/2017 về việc giải quyết khiếu nại của Công ty K1; Quyết định 610 ngày 28/5/2018 về việc điều chỉnh Quyết định 333; Quyết định số 193 ngày 15/3/2019 về việc điều chỉnh Quyết định 333; Quyết định 1320 ngày 15/12/2020 về việc điều chỉnh điều 2 Quyết định 193 của Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ.
Đây là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính, thuộc quan hệ tranh chấp về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Thuế”, còn thời hiệu khởi kiện. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 32, Điều 118, Điều 119, Điều 120 của Luật Tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người bị kiện.
Xét kháng cáo của người bị kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
Các Quyết định 333 về việc xử lý vi phạm về thuế qua thanh tra việc chấp hành luật thuế ngày 26/4/2014; Quyết định 649a ngày 15/8/2014 về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Thiện Đ, Giám đốc Công ty K1; Quyết định 744 ngày 09/9/2014 về việc điều chỉnh Quyết định số 333; Quyết định 125 ngày 02/3/2017 về việc giải quyết khiếu nại của Công ty K1; Quyết định 610 ngày 28/5/2018 về việc điều chỉnh Quyết định 333; Quyết định số 193 ngày 15/3/2019 về việc điều chỉnh Quyết định 333; Quyết định 1320 ngày 15/12/2020 về việc điều chỉnh điều 2 Quyết định 193 của Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ được ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Về nội dung của các quyết định hành chính:
Ngày 22/10/2013, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ ban hành Quyết định số 713/QĐ-CT-TTr về việc thanh tra thuế đối với Công ty K từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2012. Sau khi thanh tra thuế, ngày 26/4/2014, Cục Thuế tỉnh Đ ban hành Kết luận thanh tra thuế số 642/KL-CT, xác định Công ty K có hành vi khai sai thuế GTGT, thuế TNDN và thuế TNCN. Ngày 26/4/2014, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ ban hành Quyết định số 333/QĐ-CT xử lý vi phạm thuế qua thanh tra việc chấp hành pháp luật thuế đối với Công ty K, theo đó truy thu thuế GTGT là 67.216.605 đồng, thuế TNDN là 640.240.606 đồng và thuế TNCN là 26.203.590 đồng đối với Công ty K; phạt 10% tiền chậm nộp tiền thuế đối với các khoản thuế truy thu nêu trên vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN):
Về khoản truy thu thuế TNDN, phạt 10% và phạt tiền do nộp tiền chậm đối với Công ty K của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ (tổng số tiền truy thu và phạt là 798.191.330 đồng).
Căn cứ theo Bảng đối chiếu công nợ tiền vay và lãi vay từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2010 giữa Công ty K với Công ty Cổ phần T4 (viết tắt là Công ty T4), xác định năm 2010 Công ty K cho Công ty T4 vay Số tiền 11 tỷ đồng, lãi suất 0,875%/tháng; tính đến 31/12/2010, Công ty T4 nợ Công ty K, tổng cộng gốc và lãi là 12.466.208.333 đồng (trong đó tiền lãi vay là 1.171.041.667 đồng); Bảng đối chiếu công nợ từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2011, tổng dư nợ vay và lãi vay mà Công ty T4 nợ Công ty K là 10.078.337.500 đồng, trong đó số tiền lãi vay phải thu là 912.129.167 đồng; Bảng đối chiếu công nợ ngày 07/4/2011, xác định Công ty T4 đã trả Công ty K số tiền 3.300.000.000 đồng; Bảng đối chiếu công nợ từ ngày 01/01/2012 đến ngày 31/12/2012, tổng dư nợ vay và lãi vay mà Công ty T4 nợ Công ty K là 10.900.312.500 đồng, trong đó số tiền lãi vay là 821.975.000 đồng).
Theo quy định tại khoản 5 Mục V Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BCT ngày 26/12/2008 của Bộ T3 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNDN (được bổ sung bởi điểm a khoản 3 Điều 1 Thông tư số 18/2011/TT-BTC ngày 10/02/2011 của Bộ T3 áp dụng cho năm tính thuế 2010 - 2011 và khoản 6 Điều 7 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/10/2012 của Bộ T3 áp dụng cho năm tính thuế 2012), xác định khoản tiền lãi cho vay của Công ty K đối với Công ty T4 là thu nhập khác. Đồng thời, theo quy định tại Mục II Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BCT nêu trên, xác định khoản tiền lãi mà Công ty K được hưởng từ Công ty T4 là thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế. Ngoài ra, theo quy định tại điểm 1 khoản 1, điểm 2.2, điểm 3.6 Mục III Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC, điểm b khoản 2, điểm g khoản 3 Điều 5 Thông tư số 123/2012/TT-BTC và khoản 2 Phần II Mục A Công văn số 518/TCT-CS ngày 14/02/2011 của Tổng cục T5 về việc quyết toán thuế TNDN năm 2010 và một số nội dung cần lưu ý về thuế GTGT, tiêu thụ đặc biệt, xác định khoản lãi cho vay của Công ty K là thu nhập chịu thuế, được phát sinh trong kỳ tính thuế nên phải kê khai, hạch toán trong kỳ tính thuế, không phân biệt đã thu được hay chưa thu được. Trường hợp nếu khoản lãi vay nêu trên mà Công ty K không thu được thì Công ty K được trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi theo quy định về kế toán và khoản chi phí trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi này nếu đáp ứng đầy đủ hồ sơ, chúng từ theo quy định của pháp luật thì được ghi nhận là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
Do đó, việc Công ty K không kê khai, hạch toán đối với khoản tiền lãi cho vay nêu trên trong năm 2010, 2011 và năm 2012 là không đúng.
Đối với số tiền thuế thu nhập cá nhân (TNCN):
Về khoản truy thu thuế TNCN, phạt 10% và phạt tiền do nộp tiền chậm đối với Công ty K của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ (tổng số tiền truy thu và phạt là 41.855.308 đồng): theo Biên bản thanh tra thuế ngày 28/02/2014 (năm 2010) của Đoàn Thanh tra thuộc Cục Thuế tỉnh Đ với Công ty K, năm 2010 Công ty K chi trả tiền thưởng cho nhân viên là 1.056.000.000 đồng làm lợi nhuận kế toán trước thuế bị lỗ 420.770.795 đồng. Tại Điều 3 của Hợp đồng lao động và thỏa ước lao động mà Công ty K đã ký kết với người lao động quy định “tiền thưởng: được thưởng vào cuối năm từ 1 đến 3 tháng lương khi hoạt động kinh doanh trong năm của Công ty có lãi ...”. Như vậy, Công ty K được chi thưởng cho nhân viên tối đa số tiền là 635.229.205 đồng; số tiền 420.770.795 đồng mà Công ty K đã chi cho nhân viên là khoản chi không hợp lý, nên không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định tại tiết a điểm 2.5 khoản 2 Mục IV Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC.
Do đó, Công ty K hạch toán số tiền 420.770.795 đồng trong năm 2011 vào mục chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty để được trừ thuế TNDN là không đúng.
Đối với số tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT):
Đối với khoản truy thu thuế GTGT, phạt 10% và phạt tiền do nộp tiền chậm đối với Công ty K của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ (tổng số tiền truy thu và phạt là 112.083.689 đồng): tính đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm ngày 20/5/2021, Công ty K không khởi kiện yêu cầu hủy phần truy thu thuế GTGT mà Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ đã truy thu của Công ty K. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền 112.083.689 đồng mà Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ xử lý truy thu, phạt 10% và phạt do nộp tiền chậm đối với Công ty K là có căn cứ, nhưng lại hủy toàn bộ Quyết định số 333/QĐ-CT và các quyết định có liên quan khác là không đúng.
Như vậy, như đã phân tích tại các mục [2.2.1], [2.2.2], [2.2.3]. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm đại diện Viện kiểm sát cấp cao, chấp nhận một phần kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm.
Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên người bị kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
[1] Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ (nay là Chi cục Thuế khu vực X).
Sửa bản án sơ thẩm số 05/2021/HC-ST ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Căn cứ: Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 118, Điều 120, điểm b, khoản 1, Điều 143; khoản 2, Điều 173, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;
Căn cứ vào Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006; Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T3; Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ T3; Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ T3.
Căn cứ khoản 3, Điều 18; khoản 1, Điều 32 Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH K.
- Hủy quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 về việc xử lý vi phạm về thuế qua thanh tra việc chấp hành pháp luật thuế của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy quyết định số 649a/QĐ-CT ngày 15/8/2014 về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần Thiện Đ, giám đốc Công ty TNHH K của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định số 744/QĐ-CT ngày 09/9/2014 về việc điều chỉnh quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định số 125/QĐ-CT ngày 02/3/2017 về việc giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH K (Bổ sung tiếp Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu) của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định số 610/QĐ-CT-TTr ngày 28/5/2018 về việc điều chỉnh quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định số 193/QĐ-CT-TTr ngày 15/3/2019 về việc điều chỉnh quyết định số 333/QĐ-CT ngày 26/4/2014 và quyết định số 610/QĐ-CT ngày 28/5/2014 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Đ;
- Hủy Quyết định 1320/QĐ-CT ngày 15/12/2020 về việc điều chỉnh điều 2 Quyết định số 193/QĐ-CT-TTr ngày 15/3/2019 của Cục Trưởng Cục Thuế tỉnh Đ.
[2] Về án phí:
[2.1] Về án phí hành chính sơ thẩm:
Công ty TNHH K phải chịu 200.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 13215 ngày 22/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ (nay là Chi cục Thuế khu vực X) không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
[2.2] Về án phí hành chính phúc thẩm:
Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ (nay là Chi cục Thuế khu vực X) không phải. Hoàn trả cho Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đ (nay là Chi cục Thuế khu vực X) số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0006173 ngày 01/6/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự (2); - Lưu VP (6). HS (2). T15 (BA-36). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Long |