vanban.org

Bản án 567/2022/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hà V và Hán N phạm tội “Giết người” (phạm tội chưa đạt).

Xử phạt bị cáo Hà V 18 (mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021. Xử phạt bị cáo Hán N 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án phạm tội "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà V và Hán N phạm tội “Giết người” (phạm tội chưa đạt).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 567/2022/HSPT
Ngày: 16/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Th phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Các Thẩm phán:

Ông Thái Duy Nhiệm

Bà Vũ Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Lê Giang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh HN, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 587/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo Hán N và Hà V phạm tội “Giết người”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2022/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh HN.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Hán N, sinh năm 1989; giới tính: N; nơi cư trú: Khu 1, xã F, huyện TB, tỉnh PT; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt N; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12 (tại phiên tòa bị cáo khai học vấn 9/12); con ông Hán M và con bà Nguyễn Đ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2021 đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hán N theo chỉ định của Toà án: Ông Vũ L, Luật sư Công ty Luật TNHH S, Đoàn Luật sư tỉnh HN; địa chỉ: Số 69, phường HM, thị xã DT, tỉnh HN; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hán N theo yêu cầu của bị cáo: Ông Mai T, Luật sư Công ty Luật TNHH L, Đoàn Luật sư tỉnh BD; có mặt.

2. Họ và tên: Hà V, sinh năm 1989; giới tính: N; nơi cư trú: Khu F 1, xã F, huyện TB, tỉnh PT; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt N; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Hà B và bà Nguyễn Th; vợ Đặng H (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2021 đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Hà V theo chỉ định của Toà án: Ông Trần T, Luật sư Công ty Luật HN, Đoàn Luật sư tỉnh HN; địa chỉ: Số 02 đường Ch, phường F1, Th phố P, tỉnh HN; có mặt.

- Người bị hại không kháng cáo: Anh Phạm N, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn 3f, xã Y, huyện GL, tỉnh HD; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không triệu tập tham gia phiên toà: Ông Hán M, sinh năm 1962; trú tại: Khu 1, xã F, huyện TB, tỉnh PT.

- Người làm chứng, không triệu tập tham gia phiên toà: Anh Lê XK, anh Đỗ Th, anh VTh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 19/6/2021, Hà V và Hán N là công nhân tại Khu công nghiệp (KCN) ĐV3, thị xã DT, tỉnh HN cùng nhóm thợ điện của Công ty cổ phần xây dựng và thương mại ĐH6 (Công ty ĐH6) có địa chỉ số 204, đường Ngô Q, xã TQ, huyện GL, Th phố HN đi uống bia. Trong lúc uống bia, một người trong nhóm thợ điện nói về việc anh Phạm N là quản lý bên điện của Công ty ĐH6 ở cùng phòng trọ với V và N tại gia đình bà Đinh G thuộc tổ dân phố SL, phường ĐV, thị xã DT phản ánh V làm việc không ra gì. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi uống bia xong, V bức xúc vì nghĩ anh N hay để ý mình nên điều khiển xe mô tô Honda Lead biển kiểm soát (BKS) 19K1-….. chở N về khu nhà trọ ở tổ dân phố SL tìm anh N.

Về đến phòng trọ, N ngồi trên xe ngoài sân còn V vào mở cửa phòng trọ và gọi “Ông N đâu ra đây nói chuyện”. Lúc này, anh N đang nằm trên giường đi ra thì V nói tiếp “Tôi làm với ông bao giờ mà ông bảo tôi làm ăn đéo ra gì”, anh N không nói gì thì V lao vào đấm anh N, anh N dùng tay đỡ và đấm lại V 01 nhát làm V ngã, chảy máu vùng đầu. Thấy V bị đánh chảy máu ôm đầu chạy ra ngoài, N cầm quả tạ đúc bằng bê tông bên ngoài bọc nhựa (dạng tạ tập tay) ở sân chạy vào nhà, anh N sợ chạy vào gian buồng trong, đến cửa phía sau thì thấy cửa đóng nên anh N quay lại, N đuổi kịp, cầm quả tạ bằng tay phải đập 01 nhát trúng vào vùng đầu anh N làm anh N bị ngã xuống sàn nhà. Lúc này, anh Lê XK can N không cho đánh anh N. Trong lúc N đuổi đánh anh N thì V chạy vòng ra cửa phía sau chặn không cho anh N chạy ra ngoài; thấy cửa bị chốt, V nhặt 01 quả tạ giống như quả tạ N cầm trước đó, đập 03 đến 04 nhát thì cửa bung ra, V vứt quả tạ xuống đất.

Thấy anh N đang nằm trên sàn nhà, V chạy đến chỗ anh N, bê chiếc quạt điện trong phòng đập vào người anh N, anh XK bỏ N ra chạy vào ngăn cản kéo V ra ngoài cửa không cho V đánh anh N thì N lại cầm quả tạ vào đánh anh N tiếp. Thấy N lao vào đánh anh N thì anh XK bỏ V ra để ôm N lại. Thấy anh N chống tay định đứng dậy, V nhặt quả tạ ở cửa mà N dùng đánh anh N trước đó xông về phía anh N, tay phải cầm quả tạ đập liên tiếp 02 nhát trúng vào vùng đầu, mặt của anh N làm anh N gục xuống bất tỉnh. V giơ quả tạ lên định đánh anh N tiếp thì anh Đỗ Th can ngăn, không cho V đánh anh N. Sau đó, N và V đi ra cửa thì bị 01 nhóm người đuổi đánh nên bỏ chạy. Hậu quả anh N bị thương vùng trán thái dương trái, gãy cung tiếp gò má phải, chấn thương sọ não, tụ máu ngoài màng cứng trán phải và dưới màng cứng trán đỉnh 2 bên, chảy máu dưới nhện, dập não trán thái dương 02 bên, vỡ lún xương đỉnh trái và vỡ xương thái dương trái, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa HN – ĐV rồi được chuyển lên bệnh viện Việt Đức cấp cứu và điều trị từ ngày 19/6/2021 đến ngày 09/7/2021 chuyển về điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh HD. Ngày 10/8/2021 anh N tiếp tục điều trị phẫu thuật tạo hình hộp sọ tại Bệnh viện Việt Đức đến ngày 20/8/2021 ra viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 177/21/TgT ngày 19/11/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh HN kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định.

- Chấn thương sọ não: Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán phải, tụ máu dưới màng cứng vùng trán – đỉnh hai bên, chảy máu dưới nhện vùng trán hai bên; các ổ đụng dập, tụ máu nhu mô não thùy trán hai bên. Vỡ lún xương đỉnh trái đường vỡ lan vào xương thái dương, xương trán phải, trần ổ mắt phải. Vỡ xương đỉnh trái lan vào phần đá xương thái dương trái, sau điều trị: Khuyết xương sọ vùng trán - đỉnh phải, đã vá (đường kính ổ khuyết từ lớn hơn 06cm đến 10cm). Vỡ xương đỉnh trái, (chiều dài đường vỡ từ 03cm đến 05cm), điện não không có ổ tổn thương tương ứng. Ổ tổn thương não, (đường kính từ 02cm đến 05cm), không có di chứng chức N hệ thần kinh. Máu tụ ngoài màng cứng, không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh. Máu tụ dưới màng cứng, không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh. Chảy máu dưới màng nhện, không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh.

- Chấn thương mắt: Vỡ xương ổ mắt phải, không ảnh hưởng thị lực.

- Chấn thương hàm - mặt: Gãy cung tiếp gò má phải can tốt, không ảnh hưởng chức N. Gãy xương gò má trái can tốt, không ảnh hưởng chức N.

- Sẹo lớn vùng đầu, không ảnh hưởng chức N.

- 04 sẹo nhỏ (vùng đầu, mặt), không ảnh hưởng chức N.

- Bầm tím hai mắt, sau điều trị ổn định.

- Sưng nề vùng hàm mặt, sau điều trị ổn định.

2. Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích, ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định: 71%.

3. Cơ chế hình Th vết thương: Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: Đa chấn thương vùng đầu - mặt do vật tày diện giới hạn tác động trực tiếp gây nên”.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về AND số 320/21/TC-AND ngày 26/7/2021 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận: Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người tại vết màu nâu trên hai quả tạ bằng bê tông gửi giám định: Dương tính. Thu được dữ liệu AND đầy đủ của cùng một N giới từ vết màu nâu trên hai quả tạ bằng bê tông gửi giám định trên tất cả các locus STR đã phân tích và lưu giữ tại Viện Pháp y Quốc gia.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về AND số 405/21/TC-AND ngày 27/10/2021 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận: AND của anh Phạm N (mẫu ký hiệu M1) không trùng với AND thu từ vết màu nâu trên hai quả tạ bằng bê tông đã lưu dữ liệu ADN tại Bản kết luận giám định pháp y về AND số 320/21/TC-AND ngày 26/7/2021 của Viện Pháp y quốc gia.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về AND số 425/21/TC-AND ngày 04/11/2021 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận: AND của Hà V (mẫu ký hiệu T1) trùng khớp hoàn toàn với AND thu từ vết màu nâu trên hai quả tạ bằng bê tông đã lưu dữ liệu AND tại Bản kết luận giám định pháp y về AND số 320/21/TC-ADN ngày 26/7/2021 của Viện Pháp y quốc gia.

Về trách nhiệm dân sự: Giai đoạn điều tra, Hán N và Hà V đã tác động gia đình các bị cáo thỏa thuận với đại diện gia đình bị hại bồi thường cho anh Phạm N mỗi gia đình 50.000.000đ (tổng là 100.000.000 đồng); sau đó chị Nguyễn TS là người đại diện theo ủy quyền của anh N đã nhận đủ số tiền 125.000.000đ bồi thường tiếp của gia đình Hán N. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn TS và bị cáo Hà V thỏa thuận bị cáo V bồi thường tiếp cho anh N số tiền 125.000.000 đồng.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2022/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh HN đã quyết định:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; Điều 17; Điều 38; Điều 47; Điều 48; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 (đối với Hà V), điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 (đối với Hán N); điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 587; 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Hà V và Hán N phạm tội “Giết người” (phạm tội chưa đạt); xử phạt:

- Bị cáo Hà V 18 (mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021.

- Bị cáo Hán N 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định ghi nhận về trách nhiệm bồi thường dân sự, nghĩa vụ thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự, xử lý vật chứng, án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/4/2022, bị cáo Hà V làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Hán N kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Hà V giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Hán N xác nhận chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Cả hai bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình và cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích, nội dung và các tình tiết của vụ án có quan điểm:

+ Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

+ Về nội dung: Đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như bản án sơ thẩm đã phân tích và nhận định. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Hà V xuất trình thêm tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có bà nội có công với đất nước, có chú em bố đẻ là liệt sỹ, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị áp dụng cho bị cáo. Bị cáo Hán N trong quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bản án sơ thẩm chưa áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thiếu sót nên đề nghị áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo. Mặc dù các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng mức hình phạt bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh HN.

- Các bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Luật sư Mai T bào chữa cho bị cáo N đề nghị: Bị cáo N và bị cáo V không bàn bạc về việc đánh anh N. Khi V và N đi về đến phòng trọ, N thấy V bị anh N đánh ngã và bị chảy máu, vì là anh em với nhau nên N đến để can ngăn nhưng vì thấy V bị đánh ngã chảy máu nên đã dùng quả tạ đánh anh N. Khi V dùng quả tạ tiếp tục đánh anh N thì N đã can ngăn không cho đánh tiếp là đã thể hiện không cố ý thực hiện tội phạm đến cùng, không mong muốn cho hậu quả xẩy ra và cũng không có tính chất côn đồ vì anh N là người đánh V trước. Bị cáo N có nhân thân tốt, quá trình điều tra, xét xử và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải, đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại và người bị hại cũng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng vẫn đề nghị giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo là chưa thoả đáng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.

- Luật sư Vũ L bào chữa cho bị cáo N đề nghị: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng vẫn đề nghị giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo là chưa thoả đáng; người bị hại cũng có lỗi vì đã đánh bị V trước nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Luật sư Trần T bào chữa cho bị cáo V đề nghị: Nhân thân bị cáo V tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường và thoả thuận bồi thường cho người bị hại, tại cấp phúc thẩm bị cáo V có tài liệu mới chứng minh gia đình có công với đất nước. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ nhưng vẫn đề nghị giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo V là chưa thoả đáng. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tranh luận: Căn cứ các tài liệu hồ sơ, xác định các bị cáo V, N cùng nhau từ nơi uống bia đi xe máy về nơi phòng tẹo của anh N, hai bị cáo đã dùng quả tạ làm bằng bê tông, bên ngoài bọc nhựa đánh vào vùng đầu, vùng mặt anh N; bị cáo V còn dùng quạt điện đánh vào người anh N; hậu quả làm anh N bị thương tích 71% sức khoẻ; vị trí trên cơ thể người anh N bị đánh là các vùng trọng yếu có thể dẫn đến hậu quả chết người, anh N không chết là ngoài ý muốn của các bị cáo. Giữa các bị cáo và anh N không có mâu thuẫn, chỉ vì nghe nói anh N chê bị cáo V làm việc không hiệu quả nên các bị cáo đã cùng nhau đi từ nơi uống bia về đến phòng trọ để đánh anh N; mặc dù các bị cáo không bàn bạc gì trước nhưng khi thấy V và anh N xô xát, N đã đi đến dùng quả tạ đánh vào đầu anh N, sau đó V tiếp tục dùng quạt và quả tạ đánh anh N là đã thể hiện sự tiếp nhận ý chí của các bị cáo về việc cùng đánh anh N. Do đó, giữ nguyên quan điểm đề nghị xét xử đối với các bị cáo Hán N và Hà V.

- Các Luật sư không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Hán N, Hà V khai thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã nhận định, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử về tội “Giết người” là đúng, không oan.

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp khách quan với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Khi đi uống bia, nghe thông tin anh N chê mình làm việc không có hiệu quả; khoảng 22 giờ ngày 19/6/2021, Hà V chở Hán N bằng xe mô tô về phòng trọ tại tổ dân phố SL, phường ĐV, thị xã DT tìm anh N nói chuyện. Tại đây, V xô xát với anh N và bị anh N đấm ngã xuống nền nhà chảy máu đầu. Thấy V bị đánh, N lấy 01 quả tạ đúc bằng bê tông, bên ngoài bọc nhựa, dài 54cm, nặng 6,8kg vào nhà đánh anh N. Anh N sợ chạy vào gian buồng trong, N đuổi theo cầm tạ (loại tạ tập tay) bằng tay phải đập 01 nhát vào vùng đầu anh N làm anh N ngã xuống sàn nhà thì được anh Lê XK can ngăn. V dùng quạt điện đập vào người anh N thì anh XK bỏ N ra để ngăn cản V không đánh anh N. N lại lao vào dùng quả tạ tập tay đánh anh N thì anh XK bỏ V ra để ngăn cản N không đánh anh N. V nhặt quả tạ N sử dụng đánh anh N trước đó, đập nhiều nhát vào vùng đầu, mặt anh N làm anh N gục xuống bất tỉnh. Khi V giơ tạ lên định đánh anh N tiếp thì anh XK và anh Đỗ Th can, đẩy N và V ra ngoài sân. Hậu quả: anh N bị thương, tổn hại 71% sức khỏe.

Xét thấy, giữa các bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn, chỉ vì nghĩ anh N chê bai mình làm việc không tốt nên bị cáo V đã chở bị cáo N từ nơi uống bia đến gặp anh N nói chuyện nhưng khi đến phòng trọ N thuê, V đi vào vừa hỏi vừa đánh anh N; anh N vừa chống đỡ vừa đánh lại làm V ngã xuống đất bị chảy máu; ngay sau đó bị cáo N đi vào dùng quả tạ đánh anh N và tiếp theo đó V dùng quạt và quả tạ đánh anh N; khi các bị cáo đanh anh N, anh XK vào can ngăn nhưng các bị cáo vẫn tiếp tục xông vào đánh, sau đó có thêm anh Th1 vào can ngăn và có nhiều người đến nên các bị cáo không tiếp tục đánh anh N và bỏ đi; vị trí trên cơ thể người các bị cáo đánh anh N là vùng đầu, mặt, là các vùng trọng yếu trên có thể gây hậu quả chết người, anh N không chết là ngoài ý muốn chủ quan của các bị cáo. Hành vi đó của các bị cáo là đồng phạm với nhau, cố tình thực hiện đến cùng, thể hiện có tính chất côn đồ. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hán N, Hà V, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị nên cần xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Hán N: Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Hán N thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tự bào chữa cho rằng không phạm tội “Giết người” do người bị hại không chết là do nhận thức pháp luật của bị cáo chưa đúng; tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử là đúng, không oan; do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo...” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Hà V: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo V nộp thêm tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có bà nội là Hà Thị Nh có công với đất nước trong cuộc kháng chiến, được truy tặng Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, có em của bố đẻ là liệt sỹ Hà Đức Th9; đây là các tài liệu xác định bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà phúc thẩm, người bị hại tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy, các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại đầy đủ, bị cáo V khai báo thành khẩn; tại cấp phúc thẩm các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới: bị cáo N thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo V có công với cách mạng, người bị hại tiếp tục đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất côn đồ, gây thương tích cho người bị hại 71%, người bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của các bị cáo; các bị cáo đều có tình tiết tăng nặng là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Mức hình phạt bản án sơ thẩm đã quyết định đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, vị trí, vai trò thực hiện tội phạm. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên toà.

Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hà V, Hán N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2022/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh HN, cụ thể như sau:

1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Hà V); điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố các bị cáo Hà V và Hán N phạm tội “Giết người” (phạm tội chưa đạt).

- Xử phạt bị cáo Hà V 18 (mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021.

- Xử phạt bị cáo Hán N 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2021.

2. Về án phí: Các bị cáo Hà V và Hán N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ