- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Huỳnh Văn C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 566/2024/DS-ST Ngày: 09-8- 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Long Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Dòn
2. Ông Vũ Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 388/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 377/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971
Địa chỉ: phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – có đơn xin xét xử vắng mặt
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1979 – vắng mặt
Địa chỉ: xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Ngân hàng TMCP S và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã trình bày:
Ngày 16/9/2017, ông Huỳnh Văn C có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tin (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,6%/ tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng. Ông Huỳnh Văn C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 18.110.000 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hiện hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông Huỳnh Văn C phải chịu các tài khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chỉ tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Huỳnh Văn C đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 25.412.465 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
+ Các tài khoản phí và/hoặc lãi suất của kỳ trước
+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
+ Giao dịch mua hàng hoá của kỳ trước
+ Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ
+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Huỳnh Văn C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Ông Huỳnh Văn C vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/8/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu ông C trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 12/12/2023 là 14.172.373 đồng. Cụ thể là:
+ Nợ gốc: 8.596.048 đồng
+ Lãi quá hạn: 5.576.325 đồng
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông C, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông C vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn ông Huỳnh Văn C.
1. Buộc ông Huỳnh Văn C phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm thời tính đến ngày 12/12/2023 là 14.172.373 (Mười bốn triệu một trăm bảy mươi hai nghìn ba trăm bảy mươi ba) đồng trong đó:
+ Nợ gốc: 8.596.048 đồng
+ Lãi quá hạn: 5.576.325 đồng
2. Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 13/11/2023 cho đến khi thanh toán nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Về phía bị đơn ông Huỳnh Văn C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông Huỳnh Văn C thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng ông C vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như các tài liệu, chứng cứ có liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông Huỳnh Văn C phải trả số số tiền tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 16.865.548 đồng (Mười sáu triệu, tám trăm sáu mươi lăm ngàn, năm trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó số tiền nợ gốc là 8.596.048 đồng, Lãi quá hạn : 8.269.500 đồng.
Đồng thời ông C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng các khoản tiền lãi quá hạn phát sinh từ 10/8/2024 cho đến thanh toán xong số nợ.
Bị đơn ông Huỳnh Văn C đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Huỳnh Văn C trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 16.865.548 đồng (Mười sáu triệu, tám trăm sáu mươi lăm ngàn, năm trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó số tiền nợ gốc là 8.596.048 đồng, Lãi quá hạn : 8.269.500 đồng. Đồng thời ông C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng các khoản tiền lãi quá hạn phát sinh từ 10/8/2024 cho đến thanh toán xong số nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngân hàng TMCP S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Huỳnh Văn C. Ông C cư trú trên địa bàn huyện Bình Chánh nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Huỳnh Văn C đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập đương sự. Tuy nhiên, ông Huỳnh Văn C đã không đến Tòa án theo Giấy triệu tập. Do đó, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của ông C. Với kết quả xác minh là ông Huỳnh Văn C hiện nay không còn cư trú tại: G12/24C ấp 7, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, cư trú ở đâu không rõ. Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/ NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì thuộc trường hợp của bị đơn ông Huỳnh Văn C là “…Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung ..”. Ông C đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được thực hiện vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Các Tổ chức Tín dụng năm 2010 có hiệu lực, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Các Tổ chức Tín dụng năm 2010 và Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 để giải quyết vụ án.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và lời khai của các đương sự có trong hồ sơ vụ án thì có cơ sở xác định ngày 16/9/2017, Ngân hàng TMCP S có ký Hợp đồng tín dụng với ông Huỳnh Văn C, cấp thẻ tín dụng với hạn mức 15.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng, mục đích vay tiêu dùng, hình thức tín chấp, không có thế chấp tài sản bảo đảm. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 18.110.000 đồng. Ông C đã trả cho Ngân hàng, tổng số tiền là 25.421.465 đồng. Tính đến ngày 09/8/2024, ông C vẫn còn nợ Ngân hàng số tiền là: 16.206.223 đồng ( Trong đó số tiền nợ gốc là 8.596.048 đồng và tiền lãi quá hạn là 8.269.500 đồng)
Về yêu cầu trả lãi quá hạn: Sacombank yêu cầu ông Huỳnh Văn C trả tiền lãi quá hạn từ ngày 01/8/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền là: 8.269.500 đồng.
Căn cứ vào Điều 23 của của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S quy định thì lãi suất quá hạn được các bên thỏa thuận là: “Bằng 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại”
Thời điểm chuyển nợ quá hạn đối với khoản vay của ông Huỳnh Văn C được xác định là kể từ ngày 01/8/2022, lãi suất trong hạn được áp dụng tại thời điểm này là 2.6%, như vậy mức lãi suất quá hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn là: 150% x 2.6% x = 3.9%/năm. Lãi quá hạn được Sacombank xác định từ ngày 01/8/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/8/2024) với tổng số tiền lãi là: 8.269.500 đồng. Như vậy, Sacombank yêu cầu ông Huỳnh Văn C thanh toán tiếp số tiền lãi quá hạn còn nợ nêu trên là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.
Theo quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng và tại Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S quy định: “Sau khi sự kiện vi phạm xảy ra, chủ thể Thẻ hiểu và đồng ý rằng đơn vị phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động như sau: Chấm dứt quyền sử dụng Thẻ và tiến hành việc thu hồi tòa bộ nợ”. Ông Huỳnh Văn C đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn vay và tiền lãi, vì vậy Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu ông C trả tiền gốc và lãi còn nợ của hợp đồng tín dụng là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Buộc ông Huỳnh Văn C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 16.865.548 đồng (Mười sáu triệu, tám trăm sáu mươi lăm ngàn, năm trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó số tiền nợ gốc là 8.596.048 đồng, Lãi quá hạn : 8.269.500 đồng.
Kể từ ngày 10/8/2024 ông Huỳnh Văn C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc ( Theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016)
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cáo thông qua ngày 17/10/2016
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Huỳnh Văn C.
2. Buộc ông Huỳnh Văn C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 16.865.548 đồng (Mười sáu triệu, tám trăm sáu mươi lăm ngàn, năm trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó số tiền nợ gốc là 8.596.048 đồng, Lãi quá hạn : 8.269.500 đồng.
Kể từ ngày 10/8/2024, ông Huỳnh Văn C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Ông Huỳnh Văn C phải chịu 843.277 đồng (Tám trăm bốn mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng) và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3.2. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 354.310 đồng (ba trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm mười đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/23P số: 0033057 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục Thi hành án DS cùng cấp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Long Toàn |