- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Ngọc H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Đặng Ngọc H: 01 (một) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– Bản án số: 565/2024/HSST Ngày 23 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Lương Thiện
Bà Vương Thị Khánh Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 585/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 567/2024/QĐXXST-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:
Bùi Đặng Ngọc H, sinh năm 1998, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện nay: 6, tổ H, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: nội trợ; Con ông Bùi T, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị B, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Họ tên chồng: Huỳnh Trọng T1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 (hai) con: 01(một) con sinh năm 2017 và 01 (một) con sinh ngày 29/08/2024; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang ngày 02/8/2024, đến ngày 03/8/2024, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả tự do (do đang có thai). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường L, thành phố B từ ngày 03/8/2024 đến nay.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn T2, sinh năm 1991 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Đặng Ngọc H là người sử dụng trái phép chất ma tuý.
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/8/2024, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60F3-987.87 đi đến khu vực phường T, thành phố B để mua bánh trung thu. Trên đường đi về H gặp người thanh niên tên T3 (là bạn của H, không rõ nhân thân, lai lịch), H nhờ T3 mua giúp cho H 01 (một) gói ma túy tổng hợp (dạng đá) và 01(một) gói ma tuý tổng hợp (heroin) với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) thì T3 đồng ý. Sau đó, T3 gọi điện cho một người không rõ lai lịch để mua ma tuý, T3 chỉ vị trí cho H đến cột điện đối diện cổng chợ T4, thuộc phường T, thành phố B để lấy ma tuý rồi T3 bỏ đi (T3 không lấy tiền của H). Sau đó, H đi đến khu vực nơi T3 chỉ dẫn và lấy được 02 (hai) gói ma tuý. H cầm 02 (hai) gói ma tuý vào lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô trên đi về phòng trọ của H tại địa chỉ số F, tổ H, khu phố B, phường A, thành phố B. Khoảng 16 giờ 00 cùng ngày, khi H đem theo số ma tuý nêu trên đi đến trước số nhà F, tổ I, khu phố B, phường A, thành phố B thì bị Công an phường A tiến hành kiểm tra. Thấy lực lượng Công an, H ném 02 (hai) gói ma tuý xuống đất ngay chỗ H đứng thì bị phát hiện và bắt quả tang H cùng tang vật. Công an phường A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Quá trình điều tra, Bùi Đặng Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói ma tuý tổng hợp (dạng đá);
- 01 (một) gói ma tuý tổng hợp (heroin);
- 01 (một) xe mô tô Honda Vision biển số 60F3-987.87. Quá xác minh, xe mô tô trên là của bà Huỳnh Thị Bích L (sinh năm 1980, thường trú tại Khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) là chủ sở hữu, ngày 02/8/2024, H mượn xe bà L để đi mua bánh trung thu, việc H sử dụng xe để đi mua ma tuý bà H không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà L
* Tại Kết luận giám định số 1545/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,401 gam, loại Heroin.
Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,166 gam loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 564/CT-VKSBH ngày 26/09/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo: Bùi Đặng Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, người phạm tội là phụ nữ có thai, bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Xử phạt bị cáo Bùi Đặng Ngọc H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Tòa án nhân thành phố B tuyên: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ còn lại sau giám định.
- Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Vision biển số 60F3-987.87. Quá xác minh, xe mô tô trên là của bà Huỳnh Thị Bích L (sinh năm 1980, thường trú tại Khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) là chủ sở hữu, ngày 02/8/2024, H mượn xe bà L để đi mua bánh trung thu, việc H sử dụng xe để đi mua ma tuý bà L không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà L.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Đối với người tên T3 và người bán ma tuý cho T3 không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Bị cáo Bùi Đặng Ngọc H không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn và hối hận về hành vi của bị cáo. bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về lo cho các con của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Người chứng kiến ông Nguyễn T2 vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy việc vắng mặt người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do trong hồ sơ đã có đủ lời khai nên căn cứ khoản 2 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 01, 02), Vật chứng (bút lục 07, 08), kết luận giám định (bút lục 12). Qua đó, đã có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 02/8/2024, tại trước số nhà F, tổ I, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Bùi Đặng Ngọc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,401 gam ma tuý loại Heroin và 0,166 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
. Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về tình tiết tăng nặng: Không; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội là phụ nữ có thai, hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
.Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau khi giám định đựng trong gói niêm phong số: 1545/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
.Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Vision biển số 60F3-987.87. Quá xác minh, xe mô tô trên là của bà Huỳnh Thị Bích L (sinh năm 1980, thường trú tại Khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) là chủ sở hữu, ngày 02/8/2024, H mượn xe bà L để đi mua bánh trung thu, việc H sử dụng xe để đi mua ma tuý bà L không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho bà L.
- Đối với đối tượng tên T3 (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán trái phép chất ma túy cho H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Đặng Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Đặng Ngọc H: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/08/2024 đến ngày 03/08/2024”
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì có đóng dấu niêm phong số: 1545/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ. (hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/09/2024).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố Biên Hòa; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa; - Bộ phận T.H.A hình sự; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Hồng Ngọc |