- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ánh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 561/2022/HS-PT Ngày: 21-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.
Các Thẩm phán:
1. Ông Ngô Đức Thụ;
2. Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 479/2022/HSPT ngày 08 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số số 177/2022/HSST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận W, Thành phố H.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Ánh T; sinh năm 1974 tại Thành phố H; Giới tính: nữ; Nơi thường trú: 93C khu phố 7, phường TMT, Quận W, Thành phố H; Nơi cư trú: 99/1K tổ 4, ấp TL, xã BĐ, huyện HM, Thành phố H; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Hữu Cừ, sinh năm 1936 và bà Phan Thị Ba, sinh năm 1936 (chết); Có chồng là Danh Thiên, sinh năm 1976 và 02 con, lớn nhất sinh năm 1996 và nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 24/8/2006, Công an huyện HM ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, buộc nộp phạt số tiền 1.000.000 đồng theo Quyết định số 0019204/QĐ-XPHC, đến nay đã hết thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt hành chính.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2010/HSST ngày 08/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tuyên phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2010, chấp hành xong án phí ngày 21/3/2013. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 13 giờ 35 phút ngày 15 tháng 12 năm 2021, Nguyễn Thị Ánh T điều khiển xe mô tô biển số 50Y1-575.09 đến tiệm tạp hóa số 290/1B khu phố 5, phường HT, Quận W của bà Vũ Thị P để mua nước giải khát, thấy bà P đang ngủ, bên cạnh có để 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Promax và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A8 Star, nên Tuyết chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại rồi bán cho Nguyễn Tiến N 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Promax với giá 12.000.000 đồng, còn chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A8 Star, Tuyết để lại sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, bà P phát hiện bị mất trộm tài sản nên ngày 04/01/2022, bà P đến Công an phường HT, Quận W trình báo sự việc. Cùng ngày, Công an Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Thị Ánh T có biểu hiện nghi vấn nên mời làm việc, thì Tuyết khai nhận hành vi trộm 02 chiếc điện thoại nêu trên, đồng thời giao nộp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A8 Star đã trộm cắp được. Tại Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND Quận W kết luận: “01 điện thoại Iphone 12 ProMax 256GB Pacific Blue MGDFVN/A có giá trị 21.500.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy A8 Star, số Imei1: 256563091111309, số Imei2: 356564091111307 có giá trị 1.700.000 đồng”. Tổng giá trị là 23.200.000 đồng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 177/2022/HSST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận W, Thành phố H đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/9/2022 bị cáo Nguyễn Thị Ánh T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, bị cáo đang bị bệnh thoát vị đĩa đệm, hay bị đau nhức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, thể hiện sự xem thường pháp luật và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo cũng không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận W.
Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo có điều kiện được làm việc nuôi gia đình và chữa trị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vào lúc 13 giờ 35 phút ngày 15/12/2021, tại tiệm tạp hóa số 290/1B, Khu phố 5, phường HT, Quận W của bà Vũ Thị P, lợi dụng sơ hở khi bà P đang ngủ, bị cáo Tuyết đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Promax có giá trị 21.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A8 Star có giá trị 1.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 23.200.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, Hội đồng xét xử xét thấy: khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại.
Tuy nhiên xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội, tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu bổ sung nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T và giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo. Nhận định nêu trên cũng là lập luận chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. [4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận W, Thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; (3) - VKSND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - P.PV06 - CA TP.HCM; (1) - TAND Quận W; (1) - VKSND Quận W; (1) - Công an Quận W; (1) - Chi cục THADS Quận W; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (20). (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Uyên Thy |