- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ - xin ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Nguyễn Bảo K được ly hôn với anh Phan Truyền K1.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 560/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19-9-2024 “V/v Tranh chấp HNGĐ - xin ly hôn, nuôi con chung ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thúy An
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Hoàng Nam
Bà Nguyễn Hồng Cúc
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 19 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 455/2024/TLST - HNGĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 413/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bảo K - sinh n¨m: 1999 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
-Bị đơn: Anh Phan Truyền K1 - Sinh năm: 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn - chị Nguyễn Bảo K trình bày: Chị và anh K tự tìm hiểu khoảng 05 tháng thì được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2021, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, chị và anh T K chung sống hạnh phúc hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do không phù hợp tính ý, vợ chồng sống ly thân từ tháng 07 năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay chị Bảo K yêu cầu ly hôn với anh Truyền K1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Phú T1 - sinh ngày: 20/11/2021. Chị K1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu anh Truyền K1 phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn - anh Phan Truyền K1 trình bày: Anh và chị K1 chung sống không phù hợp tính ý, chị Bảo K yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung, anh T K đồng ý giao cháu Phan Phú T1 - sinh ngày: 20/11/2021 cho chị Bảo K tiếp tục nuôi dưỡng, vợ chồng tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Bảo K khởi kiện xin ly hôn, nuôi con với anh Phan Truyền K1. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Truyền K1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh có bản tự khai trình bày ý kiến và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa do bận công việc. Xét thấy sự vắng mặt của anh Truyền K1 không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T Khánh theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Bảo K và Phan Truyền K1 cưới nhau vào năm 2021, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị Bảo K xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không phù hợp tính ý, thường xuyên bất đồng quan điểm, vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau. Chị và anh Truyền K1 đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.....”. Anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không sống chung trong một khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh Truyền K1 có văn bản thể hiện đồng ý ly hôn với chị Bảo K. Do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận cho chị Nguyễn Bảo K được ly hôn với anh Phan Truyền K1.
Về con chung:
Chị Bảo K và anh Truyền K1 cùng xác định có 01 con chung là Phan Phú T1 - sinh ngày: 20/11/2021. Chị Bảo K yêu cầu tiếp tục nuôi con, anh Truyền K1 cũng đồng ý, hiện cháu T1 dưới 36 tháng tuổi nên sự thỏa thuận của anh chị là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T1 cho chị Bảo K trực tiếp nuôi dưỡng.
Do chị Bảo K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Anh Truyền K1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Án phí ly hôn sơ thẩm chị Bảo K phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003094 ngày 19/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Nguyễn Bảo K được ly hôn với anh Phan Truyền K1.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Phú T1 - sinh ngày: 20/11/2021 cho chị Bảo K tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Truyền K1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm chị Bảo K phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003094 ngày 19/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Báo cho chị Bảo K biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/9/2024, anh Truyền K1 được tính kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Thi hành án huyện; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thúy An |