vanban.org

Bản án 560/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Ngọc M và Bùi Vũ Bảo Duy C. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, anh Huỳnh M T và một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành N cùng đồng phạm - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Điều 123 Bộ luật H nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 560/2022/HS-PT
Ngày: 20-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn T Long

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân - Kiểm sát viên.

Ngày 20-12-2022, tại trụ sở Toà án nhân dân t nh Gia ai. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng t phúc th m c ng khai vụ án h nh sự thụ lý số 528/2022/TLPT-HS ngày 02-11-2022 đối với bị cáo Nguyễn Thành N cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án h nh sự sơ th m số 99/2022/HS-ST ngày 26-9-2022 của Tòa án nhân dân t nh Gia Lai.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Thành N, sinh ngày 12-9-1998 tại B Định; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: t nh Gia ai; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; tr nh độ văn hoá: 7/12; nghề nghiệp: àm n ng; con ng Nguyễn Văn M, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; vợ là Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 2002 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Kh ng.

Bị cáo bị bắt ngày 14-12-2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C ng an t nh Gia ai, có mặt tại phiên toà.

2. Huỳnh Ngọc M (tên gọi khác: Đất), sinh ngày 10-11-1991 tại Gia Lai; nơi ĐKHKTT: t nh Gia ai; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; tr nh độ văn hoá: 10/12; nghề nghiệp: àm n ng; con ng Huỳnh Ngọc B, sinh năm 1964 và bà Từ Thị M, sinh năm 1966; vợ là ê Hoàng Hải Y (đã ly h n) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Kh ng.

Bị cáo bị bắt ngày 14-12-2021, hiện đnag tạm giam tại Trại tạm giam C ng an t nh Gia ai, có mặt tại phiên toà.

3. Bùi Vũ Bảo Duy C, sinh ngày 25-3-1991 tại B Định; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: t nh Gia ai; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; giới tính: Nam; tr nh độ văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: àm n ng; con ng Bùi Văn D, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964; tiền án, tiền sự: Kh ng.

Bị cáo bị bắt ngày 13-7-2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C ng an t nh Gia Lai, có mặt tại phiên toà.

Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành N:

uật sư Đào Văn T - Văn phòng uật sư M, thuộc Đoàn uật sư t nh Gia ai, có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc M:

uật sư Lương Ngọc P - Văn phòng uật sư L, thuộc Đoàn uật sư t nh Gia ai, vắng mặt tại phiên toà (có g i quan điểm bào chữa).

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Vũ Bảo Duy C:

uật sư Trần Đại H - Văn phòng uật sư T, thuộc Đoàn uật sư t nh Gia ai, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Đinh M T, sinh năm 1993; địa ch cư trú: t nh Gia ai, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Chị Nguyễn Thị Diễm M, sinh năm 1992 (là vợ bị hại); địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia ai, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1972; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia Lai, vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia ai, vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 2002; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia ai, có mặt tại phiên toà.

4. Ông Huỳnh Ngọc B, sinh năm 1964; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia ai, có mặt tại phiên toà.

5. Bà Từ Thị M, sinh năm 1966; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia Lai, có mặt tại phiên toà.

6. Ông Bùi Văn D, sinh năm 1961; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia ai, vắng mặt.

7. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia ai, vắng mặt.

8. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; địa ch cư trú: Tổ 05, phường A, thị ã A, t nh Gia ai, vắng mặt.

(Vụ án có 10 người làm chứng, nhưng không liên quan đến kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01-9-2021, Nguyễn Thành N, Huỳnh Ngọc M, Bùi Vũ Duy Bảo C cùng các anh Nguyễn Văn P, Đinh M T tổ chức ăn nhậu tại nhà của M. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, N hỏi mượn anh T 1.000.000 đồng, anh T nói “Anh em với nhau mượn tiền kh ng trả mất lòng lắm”, nên kh ng cho mượn mà ch đưa cho N 300.000 đồng và nói “Anh cho em 300.000 đồng về mua sữa cho con”. N tự ái, v cho rằng anh T coi thường m nh, do đó lấy một chiếc đũa bằng tre ở trên bàn nhậu đâm một cái trúng sau lưng của anh T (kh ng gây thương tích). Được mọi người can ngăn, anh P dùng e m t chở anh T về nhà rồi quay lại tiếp tục nhậu.

Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Thành N vẫn còn bực tức anh T, nên N đi ra giếng nước của nhà Huỳnh Ngọc M lấy một con dao rựa (dài 93 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 21,5 cm, một bên lưỡi mài sắc, bị cong h nh vòng cung, mũi quặp) rồi đi bộ đến nhà anh T, với mục đích t m anh T để đánh. Khi N đi đến sân nhà anh T, th anh T cầm 02 (hai) con dao rựa (01 con dài 89,3 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 29 cm, có mũi quặp; 01 con rựa dài 89,2 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 30 cm, có mũi quặp) chạy từ hiên nhà ra ch m một cái sượt vào chân phải, làm N bị ngã vào bể bơi trẻ em và rơi con dao đang cầm. N bỏ chạy về nhà M, nói lại việc cho M, C và P biết. Nghe vậy, M và N cùng nhau đi đến nhà anh T để nói chuyện. Trên đường đi, N về nhà m nh lấy một con dao tự chế (dài khoảng 80 cm, cán được làm bằng sắt có đường kính 2,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 55 cm), mục đích đến nhà t m anh T để đánh trả thù.

Trong lúc này, anh Đinh M T đang đứng ở sân nhà m nh kể lại chuyện đánh nhau với Nguyễn Thành N cho vợ là Nguyễn Thị Diễm M và em rể là Nguyễn Văn N nghe. Thấy N cầm dao cùng với Huỳnh Ngọc M đến nhà, th anh T và anh N mỗi người cầm một con dao rựa đứng ở sân. N đứng ở ngoài đường thách thức: “Mày ra đây ch m một một với tao”, nhưng anh T kh ng ra. Cùng lúc, Bùi Vũ Bảo Duy C đến nhà anh T, thấy anh N cầm rựa đứng ở hiên nhà, C đi đến nói: “Đây là chuyện anh em trong óm, để anh em tao tự giải quyết” rồi dùng cùi chỏ tay phải đánh một cái vào cổ anh N và bỏ chạy, còn M th can ngăn, đ y anh T vào trong nhà và k o c a sắt lại. Bị đánh, anh N cầm dao rựa đuổi và ch m một nhát trúng vào vùng lưng của C (kh ng gây thương tích) và ch m một nhát trúng vào điện thoại Iphone 7 Plus đang để trong túi quần bên trái của C, làm điện thoại bị hư hỏng. C quay lại giật được con dao rựa trên tay anh N và cùng với N đuổi ch m lại anh N. Bị C và N đuổi đánh, anh N bỏ chạy trốn vào khu vực dân cư. Do kh ng đánh được anh N, C bực tức cầm con dao rựa quay lại ch m một nhát trúng vào c a sắt nhà anh T rồi đi ra ngoài đường.

Anh Đinh M T thấy C ch m vào c a sắt nhà m nh, nên cầm một con dao rựa chạy ra ch m nhau qua lại với C. Anh T ch m một nhát trúng vào cẳng tay phải của C, làm C rớt con dao rựa rồi cả hai m nhau cùng ngã uống đường. Trong lúc vật nhau, anh T cầm một con dao rựa ở bên tay trái, đồng thời nhặt được con dao rựa của C và cầm ở tay phải. Thấy C bị ch m, M chạy đến giật lấy con dao rựa trên tay của anh T, k o lê anh T trên đường (khoảng 02 m). Thấy vậy, N cũng chạy đến dùng dao tự chế đang cầm trên tay ch m liên tiếp 03 (ba) nhát vào chân và người anh T. Ngay lúc đó, M lấy được con dao rựa trên tay anh T và vung dao ch m liên tiếp 04 (bốn) nhát vào vùng đầu và người anh T. Bị đánh, anh T bỏ chạy đến trước nhà ng Phan Văn M th ngã gục xuống đường. Sau đó, được các anh Nguyễn Thanh Tuấn, Huỳnh H Hòa chở đến Bệnh viện thị ã A để cấp cứu và sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa t nh B Định điều trị, đến ngày 06-9-2021 uất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 277/21/TgT ngày 11-11-2021, Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Gia Lai kết luận thương tích của anh Đinh M T:

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 48%, áp dụng phương pháp cộng theo Th ng tư số 22/2019/TT-BYT của Bộ Y tế.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2022/HS-ST ngày 26-9-2022, Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15; Điều 17; Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật H nh sự, phạt:

- Nguyễn Thành N 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 14-12-2021.

- Huỳnh Ngọc M 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 14-12-2021.

- Bùi Vũ Bảo Duy C 11 (mười một) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 13-7-2022.

Ngoài ra, bản án sơ th m còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và th ng báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 01-10-2022, bị hại kháng cáo xin giảm h nh phạt cho các bị cáo.

- Ngày 04-10-2022, đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo xin giảm h nh phạt cho các bị cáo.

- Ngày 06-10-2022, Huỳnh Ngọc M và Bùi Vũ Duy Bảo C kháng cáo in giảm h nh phạt.

- Ngày 09-10-2022, Nguyễn Thành N kháng cáo xin giảm h nh phạt.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Sau khi t sơ th m, bị cáo và bị hại đều kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng h nh sự, do đó Hội đồng t quyết định đưa vụ án ra t phúc th m.

Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo; bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng h nh sự, Hội đồng t phúc th m quyết định t vắng mặt bị hại; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng t phúc th m căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng h nh sự:

- Kh ng chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; kh ng chấp nhận kháng cáo của bị hại và của người đại diện hợp pháp của bị hại; giữ nguyên quyết định của bản án sơ th m.

Tại phần tranh luận, người bào chữa và các bị cáo đều thống nhất về tội danh và điều luật mà Toà án cáp sơ th m đã quyết định, nhưng cho rằng các bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, từ đó đề nghị Hội đồng t phúc th m giảm h nh phạt.

Nói lời sau cùng, các bị cáo đều đề nghị chấp nhận kháng cáo.

Do các bị cáo và bị hại đều kháng cáo đề nghị giảm h nh phạt cho các bị cáo, nên Hội đồng t phúc th m em t, giải quyết trong cùng nội dung.

. X t kháng cáo của các bị cáo và của bị hại:

. Về tội danh:

Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 01-9-2021, Nguyễn Thành N, Huỳnh Ngọc M và Bùi Vũ Bảo Duy C đã có hành vi rượt, đuổi rồi dùng dao tự chế ch m vào vùng đầu và người anh của Đinh M T; hậu quả, anh T bị “Chấn thương sọ não, chấn thương mắt phải, đụng dập nhãn cầu phải”.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, thể hiện tính c n đồ, bất chấp hậu quả ảy ra; bị hại kh ng chết, mà ch bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 48% là do được đưa đi cấp cứu kip thời và nằm ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo.

Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, với lỗi cố ý gián tiếp. Do đó, Toà án cấp sơ th m kết án các bị cáo về tội “Giết người”, với t nh tiết định khung “Có tính chất c n đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật H nh sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về h nh phạt:

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo là do Nguyễn Thành N tự ái việc anh Huỳnh M T kh ng cho vay tiền, nên bị cáo lấy đũa đâm anh T. Mặc dù, được mọi người can ngăn và anh T đã về nhà, nhưng N vẫn nhiều lần mang dao tự chế đến nhà anh T để đánh trả thù. Các bị cáo Huỳnh Ngọc M và Bùi Vũ Bảo Duy C biết rõ sự việc, nhưng kh ng can ngăn, mà còn cùng với N đi đến nhà anh T. Thấy anh T và em rể là Nguyễn Văn N đứng ở sân, th C đi vào rồi dùng cùi chỏ tay phải đánh một cái vào cổ anh N, từ đó mới dẫn đến chuỗi hành vi của các bị cáo và bị hại rượt đuổi ch m nhau.

Với hành vi phạm tội và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra, Toà án cấp sơ th m x phạt Nguyễn Thành Nhật và Huỳnh Ngọc M, mỗi bị cáo 13 (mười ba) năm tù, phạt Bùi Vũ Bảo Duy C 11 (mười một) năm tù. Các bị cáo kháng cáo in giảm h nh phạt, do đó Hội đồng t phúc th m sẽ em t hành vi, đánh giá vai trò của từng bị cáo để có mức h nh hạt cụ thể.

- Đối với Nguyễn Thành N:

Bị cáo giữ vai trò là người khởi ướng và thực hành tích cực, trực tiếp ch m bị hại 03 nhát vào người, nên mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nhất. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự và phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, nên Toà án cấp sơ th m phạt bị cáo 13 (mười ba) năm tù là tương ứng với hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Mặc dù, bị cáo được bị hại kháng cáo in giảm h nh phạt, nhưng với hành vi phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, th việc cách ly bị cáo ra khỏi ã hội một thời gian dài để bị cáo lấy đó làm bài học mà cải tạo, s a chữa là cần thiết. Có như vậy mới đủ tác dụng để giáo dục đối với bị cáo, cũng như ngăn chặn và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. V vậy, Hội đồng t phúc th m kh ng giảm h nh phạt cho bị cáo.

- Đối với Huỳnh Ngọc M:

Mặc dù, kh ng có mâu thuẫn với bị hại, nhưng khi được Nguyễn Thành N rủ rê, bị cáo đã cùng đi với N qua nhà anh T. Đến nơi, thấy việc rượt đuổi, ch m qua ch m lại, bị cáo kh ng can ngăn mà còn giật dao rồi ch m vào vùng đầu và người anh T. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự như thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt và được bị hại kháng cáo in giảm h nh phạt. V vậy, để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, Hội đồng t phúc th m chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại, giảm h nh phạt cho bị cáo.

- Đối với Bùi Vũ Bảo Duy C:

Khi được Nguyễn Thành N rủ đi đánh bị hại để trả thù, bị cáo đã đồng ý và là người đầu tiên đánh anh N. Đây cũng là nguyên nhân khởi ướng cho việc rượt đuổi ch m nhau giữa các bị cáo N, M với bị hại. Tuy nhiên, do bị cáo kh ng trực tiếp gây thương tích cho bị hại, nên mức độ nguy hiểm thấp hơn N và M; đồng thời, quá tr nh điều tra và tại các phiên toà, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt; tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị hại cũng có một phần lỗi và có đơn kháng cáo in giảm h nh phạt cho bị cáo. V vậy, để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, Hội đồng t phúc th m sẽ giảm h nh phạt cho bị cáo.

Như vậy, kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của bị hại đã được Hội đồng t

phúc th m em t và ch có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Ngọc M, Bùi Vũ Bảo Duy C và một phần kháng cáo của bị hại.

. Các quyết định khác của bản án sơ th m kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị, Hội đồng t phúc th m kh ng em t.

. Về án phí h nh sự:

- Các bị cáo được chấp nhận kháng cáo kh ng phải chịu án phí h nh sự phúc th m.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng h nh sự.

- Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N.

- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Ngọc M và Bùi Vũ Bảo Duy C.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, anh Huỳnh M T và một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại.

- S a Bản án h nh sự sơ th m số 99/2022/HS-ST ngày 26-9-2022 của Toà án nhân dân t nh Gia ai về Phần Trách nhiệm h nh sự đối với các bị cáo Huỳnh Ngọc M và Bùi Vũ Bảo Duy C.

2. Về trách nhiệm h nh sự:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật H nh sự, phạt:

- Nguyễn Thành N 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 14-12-2021.

- Huỳnh Ngọc M 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 14-12-2021.

- Bùi Vũ Bảo Duy C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 13-7-2022.

3. Các quyết định khác của bản án sơ th m kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí h nh sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng h nh sự điểm; các b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nguyễn Thành N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngh đồng) án phí h nh sự phúc th m.

- Huỳnh Ngọc M và Bùi Vũ Bảo Duy C kh ng phải chịu án phí h nh sự phúc th m.

5. Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ