vanban.org

Bản án 560/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :

Về quan hệ vợ chồng: Bà Ông Thị Ngọc D được ly hôn ông Trương Tuấn Q. Về con chung: Giao trẻ Trương Quỳnh Nhi sinh ngày 23/9/2012 cho Bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên tự thảo thuận việc cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Thị Ngọc D - Trương Tấn Q"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 560/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 06-9-2018
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân :

1/ Bà Nguyễn Thị Kim Dung

2/ Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận 10, số 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2018/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2018, về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2018/QĐXX-ST ngày 17/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2018/QĐST-DS ngày 09/8/2018 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Bà Ông Thị Ngọc D, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: 750/28 Điện Biên Phủ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trương Tuấn Q, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: 750/28 Điện Biên Phủ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện ngày 27/3/2018, trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Bà Ông Thị Ngọc D trình bày:

Bà D và Ông Q tự nguyện chung sống từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển 01/2012 ngày 08/3/2012.

Quá trình chung sống, vợ chồng sống được một thời gian khá hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do Ông Q có sử dụng các chất nghiện dẫn đến không còn quan tâm đến đời sống chung vợ chồng. Trong cuộc sống Ông Q thường xuyên gây gỗ dẫn đến không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng và bản thân Bà D luôn trong tình trạng lo sợ, mệt mỏi. Do vợ chồng không còn tình cảm nên Bà D đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích nôn nhân không đạt được nên Bà D xin được ly hôn với Ông Q

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trương Quỳnh Nhi sinh ngày 23/9/2012. Khi ly hôn Bà D xin được nuôi con và cấp dưỡng tự thỏa thuận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà D khai không có không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn ông Trương Tuấn Q vắng mặt trong suốt quá trình tòa thụ lý và giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do bị đơn vắng mặt, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 21, quyển 01/2012 ngày 08/3/2012 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa Ông Trương Tuấn Q và Bà Ông Thị Ngọc D là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, nay Bà D yêu cầu ly hôn là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Về thẩm quyền: Bị đơn Ông Q hiện đang cư trú tại địa chỉ 750/28 Điện Biên Phủ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Xét bị đơn Ông Trương Tuấn Q đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn Bà Ông Thị Ngọc D là hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng

Về nội dung:

Xét yêu cầu xin ly hôn của Bà D, Hội đồng xét xử xét thấy :

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cùng giấy triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa tham gia tố tụng, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình, do vậy Tòa căn cứ vào chứng cứ và lời khai của nguyên đơn để giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được, Bà D trình bày, vợ chồng sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nguyên nhân là do Ông Q không quan tâm đến cuộc sống gia đình cũng như không lo chăm sóc con chung. Quá trình chung sống Ông Q không thay đổi mà tình trạng ngày thêm trầm trọng nên bà quyết định xin ly hôn. Bản thân Ông Q đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Toà cung cấp lời khai và không tham gia hòa giải. Qua đó cho thấy bản thân Ông Q cũng không thiết tha đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nay Bà D xin ly hôn Ông Q là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trương Quỳnh Nhi sinh ngày 23/9/2012. Xét yêu cầu của bà Ngọc xin được nuôi con, Hội đồng xét xử nhận thấy: hiện tại trẻ Nhi đang được Bà D chăm sóc, giáo dục. Bản thân Ông Q vắng mặt không có lý do và không trình bày nguyện vọng muốn được nuôi con hay không. Do đó, việc giao trẻ Nhi cho Bà D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quyền lợi của trẻ nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Bà D khai không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 56, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 5, khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :

Về quan hệ vợ chồng: Bà Ông Thị Ngọc D được ly hôn ông Trương Tuấn Q.

Về con chung: Giao trẻ Trương Quỳnh Nhi sinh ngày 23/9/2012 cho Bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên tự thảo thuận việc cấp dưỡng nuôi con.

Ông Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng viêc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luât, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Về tài sản chung: Bà D khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà D chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0040657 ngày 04/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ đối với Bà D và Ông Q.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ