- Tranh chấp gì? "NGUYỄN VĂN H. CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng c o của bị c o Nguyễn Văn H và không chấp nhận kh ng c o của người liên quan bà Nguyễn Thị X; sửa b n n sơ thẩm.
- Căn cứ chính? luật T tụng hình sự
| T A ÁN NH N D N T NH L M Đ NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n s : 56/2019/HS-PT Ngày: 16-7-2019 |
NHÂN DANH
N C C NG H A X H CHỦ NGH A V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phan Minh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Hiệp
Ông Nguyễn Kim Đồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 43/2019/TLPT-HS ngày 25-4-2019 đ i với bị cáo Nguyễn Văn H; do kháng cáo của bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 16/2019/HS-ST ngày 19-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H (tên gọi kh c: H Xuyến); sinh năm 1974 tại Ninh Bình; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn n, xã TL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ho (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ Nguyễn Thị X, sinh năm: 1975 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2008;
Tiền sự: Không; tiền n: Ngày 18-9-2012 bị Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 42 th ng tù về tội “Hủy hoại rừng”; ngày 29-8-2014 chấp hành xong hình phạt.
Nhân thân: Ngày 09-11-2011 bị Tòa n nhân dân huyện o Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 th ng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; n n s 48/2018/HS-PT Ngày 20-8-2018 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 th ng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; chấp hành xong hình phạt ngày 25-01-2019.
ị c o bị bắt tạm giam từ ngày 25-01-2019; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Thị Phương - Văn phòng luật sư Lộc Ph t thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Hoàn V, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn h, xã ĐTT, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn h, xã ĐTT, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hoàng Ngọc S; nơi cư trú: Ấp b, Ấp TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
2. Ban qu n lý rừng Tân Thượng; địa chỉ: Lô a, tiểu khu 612, Thôn 1, xã Đinh Trang Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Văn L. Chức vụ: Trưởng ban qu n lý rừng. Có mặt.
3. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn n, xã TL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn ĐL1 , xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn ĐL1 , xã LĐ, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Nhân chứng:
1. Anh Vũ Thanh M, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn m, xã TT, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
2. Anh Nghiêm Qúy T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn b, xã TL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
3. Anh Liêu Văn M, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn m, xã ĐTT, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
4. Ông Trần Văn H; nơi cư trú: Xóm b, xã HT, huyện KS, tỉnh NB. Vắng mặt.
5. Ông Lê Văn P, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn h, xã ĐTT, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
N DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo hợp đồng s 03/2013/HĐ-BQLR ngày 02-5-2013 thì ông Nguyễn Hoàn V (sinh năm: 1971, trú tại: Thôn h, xã ĐTT, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng) được an qu n lý rừng Tân Thượng giao kho n diện tích đất trồng rừng với diện tích 49.500m2 (4,95ha) tại lô a, kho nh 2, tiểu khu 612 thôn 1, xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi được nhận đất ông Văn trồng Muồng và cà phê xen canh.
Đến cu i năm 2014 sau khi chấp hành xong n phạt tù, Nguyễn Văn H vào lô đất nói trên và dùng lời nói đe dọa ông V và vợ là bà Nguyễn Thị (sinh năm: 1972, trú tại: thôn h, xã ĐTT, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng) ph i chia cho H một phần đất đã nhận kho n vì H cho rằng diện tích đất ông V nhận khoán có một phần đất của H trước đây mua của Liêu Văn M (sinh năm: 1984, trú tại: thôn m, xã ĐTT, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng); Nghiêm Quý T (tên thường gọi là Q, sinh năm: 1985: trú tại: thôn b, xã TL, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng) và hai anh em sinh đôi Trần Văn H (sinh năm: 1972, trú tại: xã HT, huyện KS, tỉnh NB) và Trần Văn H (đã chết). Vợ chồng ông V không đồng ý nhưng sau nhiều lần H đe dọa thì vợ chồng ông V sợ bị H xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và kinh tế nên buộc ph i chia cho H 1,055ha đất trên đất có 70 cây cà phê 01 năm tuổi và 311 cây muồng 01 năm tuổi, lần chia đất này ông V đã chủ động ghi âm những lời nói đe dọa, ép buộc để chiếm đất của H đ i với gia đình ông V. Đ i với diện tích đất này, năm 2015 vợ chồng Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị X thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Nguyễn Văn C (sinh năm: 1971, trú tại: thôn ĐLm, xã LĐ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng - là anh ruột của X) diện tích 02ha (trong đó có 1,055ha chiếm của ông V) với gi 370.000.000 đồng nhưng ông C chưa có tiền nên vợ chồng HX giao cho gia đình ông C đầu tư canh t c và hưởng lợi rồi tr tiền sau.
Sau khi bị Nguyễn Văn H chiếm đoạt đất và cây trồng trên đất, ông V có ph n nh với an qu n lý rừng và U ND xã Đinh Trang Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng nhưng không được gi i quyết đồng thời do sợ bị H tr thù nên không dám báo cơ quan công an. Đến th ng 8-2017, Nguyễn Văn H bị bắt nên ông V mới làm đơn t c o đến Cơ quan c nh s t điều tra Công an huyện Di Linh và giao nộp đoạn băng ghi âm H đe dọa vợ chồng ông để lấy đất.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn H không thừa nhận hành vi phạm tội mà cho rằng đất và cây trồng trên đất là của Hoàn, ông V tự nguyện giao đất cho H để tr công khai hoang và đầu tư cây trồng cho H.
Ngày 05-10-2017 và 06-11-2017 Cơ quan c nh s t điều tra Công an huyện Di Linh ban hành Quyết định trưng cầu s 104 và 202 trưng cầu đ i với đoạn ghi âm do ông V giao nộp. Tại kết luận gi m định s 5071/C54-P6 ngày 13-10-2017 và s 5783/C54-P6 ngày 23-11-2017 của Viện khoa học hình sự tổng cục c nh s t kết luận: file ghi âm không có dấu hiệu bị cắt ghép, giọng nói đe dọa dùng vũ lực là của Nguyễn Văn H, trong đoạn ghi âm còn có giọng nói của ông Nguyễn Hoàn V và bà Nguyễn Thị đồng thời trích nội dung ghi âm trong đó có một s câu nói Nguyễn Văn H đe dọa vợ chồng ông Văn như “Đừng có láo với tôi nha! Tôi nói chuyện đàng hoàng không nghe, đừng để tôi phải dùng vũ lực nha”, “Bên này của tôi đất như thế mà dám trồng cà phê lên không hỏi. Tôi vào mà bắt được mà làm thì tôi dụi đầu xuống ...”, “... còn thằng nào làm đây, đố thằng nào làm đây. ... Tao giết đi chứ đừng có láo toét đâu, nói chuyện nhẹ không nghe lại muốn vũ lực. Ba mươi giây cho chúng mày biết lễ độ là gì ngay chứ có gì đâu, nói chuyện đàng hoàng không nghe, thích gì thì nói ...”
Qu trình điều tra đã x c định: năm 2006 Liêu Văn M sang nhượng cho vợ chồng Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị X diện tích đất cà phê là 0,13ha để trừ nợ, tuy nhiên trong đó có một phần đang tranh chấp với Nghiêm Quý T (Tên thường gọi là Q). Vì vậy, sau khi nhận chuyển nhượng từ M, vợ chồng Nguyễn Văn H nói chuyện với Nghiêm Quý T không tranh chấp diện tích đất đó nữa mà để lại cho vợ chồng H canh t c thì vợ chồng H sẽ xóa s tiền T đang nợ. T đồng ý và không tranh chấp nữa. Qu trình x c định thực tế tại hiện trường x c định diện tích mà Nghiêm Quý T và Liêu Văn M giao lại cho vợ chồng Nguyễn Văn H nằm ngoài diện tích đất mà ông V nhận kho n.
Tại thời điểm ký hợp đồng giữa an qu n lý rừng Tân Thượng và ông Nguyễn Hoàn V đều ghi nhận hiện trạng toàn bộ diện tích đất tại lô a kho nh 2 tiểu khu 612 là đất tr ng có cây t i sinh mọc r i r c.
Tại kết luận định gi tài s n của Hội đồng định gi tài s n huyện Di Linh kết luận: 70 cây cà phê trồng 01 năm tại thời điểm năm 2014, 311 cây Muồng đen trồng 01 năm tại thời điểm năm 2014 có tổng trị gi là 24.920.000 đồng.
Qu trình điều tra, Cơ quan c nh s t điều tra Công an huyện Di Linh đã thu giữ:
- 01 m y ghi âm hiệu CENLUX-C52 màu đen.
- 01 xe mô tô BS 49M1-1981, 01 xe mô tô BS 35N4-0799, 01 xe mô tô BS 49N2-9151. Qu trình điều tra x c định c c xe mô tô này không liên quan đến vụ n nên đã tr lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Văn C xe mô tô BS 49M1-1981, đ i với c c xe mô tô còn lại do chưa x c định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ x c minh xử lý sau.
Theo lời khai của ông Nguyễn Hoàn V, sau khi H chiếm đất của ông thì Nguyễn Văn Hi (sinh năm: 1972, là anh trai của H) có đe dọa ông V tiếp tục giao đất, ông V sợ nên ph i chia đất nhưng do H đứng ra nhận thay. Lần này ông V giao cho H 1,159ha, trên đất có 147 cây cà phê trồng 01 năm tuổi và 414 cây muồng trồng 01 năm tuổi. Diện tích đất này vợ chồng Hoàn-Xuyến đã b n cho ông Hoàng Ngọc S (sinh năm: 1959, trú tại: tổ m, Ấp b, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai) diện tích 1,35 ha trong đó có 1,159ha chiếm của ông V với gi 340.000.000 đồng. Đ i tượng Nguyễn Văn H hiện đã bỏ tr n khỏi phương nên chưa có cơ sở để x c định H có cùng Hi chiếm đoạt diện tích đất này và cây trồng trên đất của gia đình ông V hay không nên Cơ quan điều tra t ch ra để x c minh xử lý sau.
Tại b n C o trạng s 58/Ctr-VKS ngày 12 th ng 11 năm 2018 Viện kiểm s t nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy t Nguyễn Văn H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại kho n 1 Điều 135 ộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.
B n án s 16/2019/HS-ST ngày 19-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng:
Căn cứ kho n 1 Điều 135 ộ luật hình sự năm 1999; kho n 2 Điều 51, điểm g, kho n 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên b bị c o Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị c o Nguyễn Văn H 18 th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-01-2019.
Về tr ch nhiệm dân sự:
uộc bị c o Nguyễn Văn H cùng vợ Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ giao tr diện tích đất 1,055ha thuộc lô a, kho nh 2, tiểu khu 612 thuộc thôn 1, xã Đinh Trang Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Hoàn V cho an qu n lý rừng Tân Thượng tiếp tục thực hiện Hợp đồng giao kho n đã ký kết với vợ chồng ông Nguyễn Hoàn Văn.
B n án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 02-4-2018 bị c o Nguyễn Văn H kháng cáo kêu oan.
- Ngày 04-4-2019 người liên quan bà Nguyễn Thị X kh ng c o phần tr ch nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị xem xét: bị c o tuy có hành vi đe dọa để chiếm đoạt diện tích đất 1,055ha do ông V đang qu n lý, sử dụng, nhưng quyền sử dụng đất là đất nhận kho n không thuộc đ i tượng chiếm đoạt. Thực tế bị c o đã chiếm đoạt cây trồng trên đất trị gi 24.920.000đ, nhưng cây trồng không thể lấy đi được. Do vậy, không chấp nhận kh ng c o kêu oan của bị c o, cần tuyên bị c o phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị c o 06 th ng tù.
Bị c o giữ nguyên nội dung kh ng c o kêu oan, cho rằng không phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” như b n n sơ thẩm đã tuyên. ị c o khai trước đó có gặp ông V thỏa thuận lấy lại đất, bị c o sẽ tr lại tiền đầu tư làm giấy tờ. Do ông V yêu cầu tr 250.000.000đ, bị c o không có đủ tiền nên nói chia lại đất, ông V đồng ý nên hai bên đến chia đất, ngay sau khi chia xong thì bà B có lời nói làm bị c o bức xúc nên có nói những lời như trong đoạn ghi âm.
Người bào chữa cho bị c o cho rằng phần diện tích đất bị c o lấy lại là do trước đây bị c o sang nhượng lại, trong hồ sơ có hai giấy sang nhượng. Theo biên b n đ i chất giữa nhân chứng P và ông V (BL 512), ông V khai là khi nhận kho n có thấy một s h cà phê và cây cà phê, ông Văn không trồng trên phần đất này, sau này H đòi lại thì có tr phần đất có h cà phê này. Về cây trồng trên đất thì không ai chứng minh được người đó trồng, đ i tượng trong vụ n này là cây trồng trên đất, nên đề nghị tuyên b bị c o không phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Theo hợp đồng s 03/2013/HĐ-BQLR ngày 02-5-2013 thì ông Nguyễn Hoàn V được an qu n lý rừng Tân Thượng giao kho n diện tích đất trồng rừng với diện tích 49.500m2 (4,95ha) tại lô a, kho nh 2, tiểu khu 612 thôn 1, xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi được nhận đất ông Văn trồng Muồng và cà phê xen canh.
Đến cu i năm 2014 sau khi chấp hành xong n phạt tù, Nguyễn Văn H vào lô đất nói trên và dùng lời nói đe dọa ông V và vợ là bà Nguyễn Thị ph i chia cho Hoàn một phần đất đã nhận kho n vì Hoàn cho rằng diện tích đất ông V nhận kho n có một phần đất của H trước đây mua của Liêu Văn Minh, Nghiêm Quý Tâm và hai anh em sinh đôi Trần Văn H và Trần Văn Ho (đã chết). Vợ chồng ông V không đồng ý nhưng sau nhiều lần Hoàn đe dọa thì vợ chồng ông V sợ bị H xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và kinh tế nên buộc ph i chia cho H 1,055ha đất trên đất có 70 cây cà phê 01 năm tuổi và 311 cây muồng 01 năm tuổi, lần chia đất này ông V đã chủ động ghi âm những lời nói đe dọa, ép buộc để chiếm đất của H đ i với gia đình ông V. Do lúc này H mới đi tù về nên ông V không d m t c o, đến năm 2017 H bị bắt về hành vi phạm tội kh c thì ông V mới làm đơn t c o.
Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Văn H và kháng cáo phần trách nhiệm dân sự của bà Nguyễn Thị X: Đơn kh ng c o của bị c o và người liên quan làm trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét.
Ngày 02-5-2013 ông Nguyễn Hoàn V được an qu n lý rừng Tân Thượng giao kho n diện tích đất trồng rừng với diện tích 49.500m2 (4,95ha) tại lô a, kho nh 2, tiểu khu 612 thôn 1, xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Như vậy ông Nguyễn Hoàn V được quyền canh t c, sử dụng diện tích đất này.
Qu trình điều tra và tại phiên tòa bị c o Nguyễn Văn H thừa nhận nội dung đoạn hội thoại ghi âm do bị hại xuất trình cho Cơ quan điều tra tại giai đoạn điều tra là của bị c o, đồng thời x c nhận nội dung kết luận gi m định ghi âm có những lời nói đe dọa là lời nói của bị c o. Nhưng bị c o cho rằng cu i năm 2014 khi vợ chồng ông Nguyễn Hoàn V, bà Nguyễn Thị đang tiến hành giao đất cho bị c o thì bà B có lời lẽ xúc phạm bị c o, bị c o bức xúc nên nói như vậy.
Về diện tích đất mà ông V đã thực hiện việc cắt chia giao cho bị c o sau này x c định được 1,055 ha tọa lạc tại lô a, kho nh 2, tiểu khu 612 thôn 1, xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng thì bị c o khẳng định là thuộc quyền sử dụng của bị c o, có nguồn g c do bị c o mua của hai anh em Trần Văn H, Trần Văn Ho (còn gọi hai ông Đôi); của Nghiêm Quý T, của Liêu Văn M và một phần bị c o khai ph thêm. Tuy nhiên bị c o cũng thừa nhận c c thỏa thuận đó chỉ bằng miệng, không có chứng cứ, tài liệu nào chứng minh.
Theo hợp đồng s 03/2013/HĐ-BQLR ngày 02-5-2013, diện tích đất mà ông Nguyễn Hoàn V cắt giao cho bị c o Hoàn nằm trong diện tích đất 4,95ha đã được an qu n lý rừng Tân Thượng giao kho n cho ông Nguyễn Hoàn V, vì vậy việc sử dụng đất của ông Nguyễn Hoàn V là hợp ph p. Tại iên b n bàn giao hiện trường cho hộ nhận kho n ông V ngày 3-5-2013; Hồ sơ thiết kế giao khoán thể hiện đất mà ông V nhận kho n là đất tr ng, do đó có cơ sở x c định cây trồng trên đất thời điểm ông V cắt giao cho bị c o H cu i năm 2014 thuộc quyền sở hữu hợp ph p của ông V.
Như vậy, bị c o Nguyễn Văn H đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực uy hiếp tinh thần ông Nguyễn Hoàn V, bà Nguyễn Thị B nhằm mục đích chiếm đoạt quyền qu n lý, sử dụng tài s n trong đó có cây trồng là thành qu lao động trên đất mà ông Nguyễn Hoàn V được Ban qu n lý rừng Tân Thượng giao khoán hợp ph p để trồng rừng. Hành vi của bị c o đã chiếm đoạt tài s n là cây trồng trên đất của bị hại trị gi là 24.920.000 đồng.
Căn cứ lời khai của bị hại, người làm chứng, người liên quan và các tài liệu chứng cứ kh c đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo kho n 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội. Do đó, kh ng c o kêu oan của bị c o không có cơ sở để xem xét.
Đại diện Viện kiểm s t đề nghị kết luận bị cáo phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, tuy nhiên hành vi của bị cáo không thỏa mãn hành vi khách quan của tội này, là lợi dụng tình trạng người qu n lý tài s n không có kh năng ngăn c n để công khai chiếm đoạt tài s n. Hành vi của bị c o đã có lời nói đe dọa làm cho ông V sợ ph i giao tài s n nên thỏa mãn dấu hiệu tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo như kết luận của b n n sơ thẩm.
Về áp dụng tình tiết gi m nhẹ: Bị cáo tuy không nhận tội nhưng đã thừa nhận lời nói của mình trong đoạn ghi âm và thừa nhận có lấy lại đất. Do đó, p dụng thêm cho bị cáo tình tiết gi m nhẹ quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét gi m cho bị cáo một phần hình phạt.
Đ i với kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của bà Nguyễn Thị X: Thấy rằng hành vi của bị c o đã trực tiếp xâm phạm đến tài s n hợp pháp của người kh c được pháp luật b o vệ. Cấp sơ thẩm buộc bị c o Nguyễn Văn Hoàn cùng vợ Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ giao tr diện tích đất 1,055ha thuộc lô a, kho nh 2, tiểu khu 612 tại thôn 1, xã Đinh Trang Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã chiếm đoạt của ông Nguyễn Hoàn V là đúng, nhưng tuyên tr cho an qu n lý rừng Tân Thượng là không đúng nên cần buộc tuyên tr cho vợ chồng ông Nguyễn Hoàn V. Vì vậy kh ng c o của bà Xuyến không có cơ sở để xem xét.
Về n phí: ị c o, bà Xuyến không ph i chịu n phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b kho n 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 ộ luật T tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng c o của bị c o Nguyễn Văn H và không chấp nhận kh ng c o của người liên quan bà Nguyễn Thị X; sửa b n n sơ thẩm.
Căn cứ kho n 1 Điều 135 ộ luật hình sự năm 1999; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; điểm g kho n 1 Điều 52 ộ luật Hình sự năm 2015
Tuyên b bị c o Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt bị c o Nguyễn Văn H 12 (mười hai) th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-01-2019. Tiếp tục tạm giam bị c o để đ m b o thi hành án.
2. Về tr ch nhiệm dân sự: uộc bị c o Nguyễn Văn H cùng vợ Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ giao tr diện tích đất 1,055ha thuộc lô a, kho nh 2, tiểu khu 612 tại thôn 1, xã Đinh Trang Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng cho vợ chồng ông Nguyễn Hoàn V, bà Nguyễn Thị để thực hiện theo Hợp đồng giao kho n với an qu n lý rừng Tân Thượng.
3. Căn cứ Điều 135 ộ luật T tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về n phí và lệ phí tòa n. ị c o Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị X không ph i chịu n phí hình sự phúc thẩm.
C c quyết định kh c của b n n sơ thẩm không có kh ng c o, kh ng nghị đã có hiệu lực ph p luật kể từ ngày hết thời hạn kh ng c o, kh ng nghị.
n n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND huyện Di Linh; - VKSND huyện Di Linh; - Cơ quan điều tra CA huyện Di Linh; - NTG Công an huyện Di Linh; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng; - Chi cục THADS huyện Di Linh; - ị cáo; Đương sự; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. H Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PH ÊN T A (Đã ký) Phan Minh Dũng |