- Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Bộ luật hình sự đ i; Bộ luật t tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| T A ÁN NH N D N H N PHONG THỔ T NH LAI CH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án s : 56/2020/HS-ST Ngày: 30/9/2020 |
NHÂN DANH
NƢ C C NG H A X H I CH NGH A VI T NAM
TO ÁN NH N D N H N PHONG THỔ T NH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Cao Sơn; Nghề nghiệp: Cán bộ Hội đồng nhân dân xã - Ông Lò Văn Chiên; Nghề nghiệp: Hưu trí (có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lí người dưới 18 tuổi)
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Ông Lương Gia Khánh - Kiểm sát viên
Ngày 30/9/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s : 54/2020/HSST, ngày 10/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 56/2020/QĐXXST - HS ngày 18/9/2020 đ i với các bị cáo:
1. Giàng A N (tên g i khác: Không), sinh năm: 1978; nơi cư tr : B n Xin Ch i, xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Mông; qu c tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam, tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm ruộng; tr nh độ h c vấn: Không biết chữ; con ông Giàng A Sầu, sinh năm: 1935 và bà Giàng Thị Lỳ, sinh năm 1940; Bị cáo có v Vàng Thị Dua, sinh năm: 1978 và có 04 con lớn nhất sinh năm: 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2010;
Tiền sự: không, tiền án: 03 tiền án.
+ Ngày 30/10/2002 Giàng A N bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” tại B n án s : 69/2002/HSST.
+ Ngày 29/8/2006 Giàng A N bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n”, tại B n án s 33/2006/HSST, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 09/5/2006. Giàng A N đã chấp hành phạt tù tại trại giam Hồng Ca, Yên ái, đến ngày 09/8/2008 chấp hành xong hình phạt tù trở về sinh s ng tại địa phương.
B n án s 34/2011/HSST ngày 20/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm p (tái phạm nguy hiểm), kho n 2 Điều 194 của LHS, điểm p kho n 1 điều 46 BLHS xử phạt bị cáo Giàng A N 08 năm tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 18/12/2010. Giàng A N đã chấp hành án phạt tù tại trại giam Hồng Ca, Yên ái, đến ngày 18/12/2017 chấp hành xong hình phạt tù trở về sinh s ng tại địa phương.
Như vậy tính đến ngày bị cáo Giàng A N thực hiện hành vi phạm tội lần này (ngày 06/12/2019) bị cáo chưa đư c xóa án tích theo quy định của BLHS.
Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 03/4/2020 đến ngày 12/4/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư tr . Đến ngày 25/6/2020 Giàng A N bị CQ CSĐT Công an huyện Phong Thổ tạm giữ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma t y theo quy định tại Điều 249 BLHS. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/6/2020 đến ngày 04/7/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ, có mặt tại phiên tòa.
2. Giàng A L (tên g i khác: Giàng A Lử), sinh năm: 2002; nơi cư tr : B n T Lèng, xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Mông; qu c tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam, tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm ruộng; tr nh độ h c vấn: Không biết chữ; con ông Giàng A Sinh (đã chết) và bà Châu Thị Gia, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có v , con. Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/4/2020 đến ngày 13/4/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư tr , đến ngày 14/8/2020 bị bắt truy nã và bị tạm giữ từ ngày 15/8/2020 đến ngày 18/8/2020 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ, có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo(Đại diện gia đình): Chị Châu Thị G ( mẹ đẻ của bị cáo), sinh năm: 1965.
Nơi cư tr : n T Lèng, xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng (có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Tr giúp viên pháp lý của Trung tâm tr giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu. (có mặt)
- ị hại: Anh Tẩn A L1; sinh năm: 1976; tr tại: n Má Tiển, xã B n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lù Thị Q sinh năm: 2000; tr tại: n Má Tiển, xã B n Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Anh Vàng Tráng Ph; sinh năm: 1973; tr tại: B n T Lèng, xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
- Anh Vừ A D, sinh năm: 1988; tr tại: B n T Lèng, xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt).
N I DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Kho ng 17 giờ ngày 06/12/2019, Giàng A L đến nhà Giàng A N để rủ N trộm cắp trâu mang sang Trung Qu c bán lấy tiền chia nhau tiêu tết. Do N mu n có tiền chi tiêu tết nên đồng ý đi trộm cắp cùng và b o L ăn cơm t i nhà N xong rồi cùng đi. Kho ng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm t i xong, L đi vào buồng nhà N lấy 01 đèn pin loại có dây đeo trên đầu, đi vào bếp nhà N lấy 01 con dao nh n của nhà N để đem đi cắt dây buộc trâu, N cũng lấy 01 đèn pin loại có dây đeo trên đầu của nhà N sau đó c hai cùng đi bộ theo đường mòn từ bãi ruộng của b n Xin Ch i, xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ qua nương chu i để sang b n Má Tiển, xã B n Lang, huyện Phong Thổ trộm cắp trâu.
Kho ng 23 giờ cùng ngày 06/12/2019, N và L đi đến khu vực nhà anh Tẩn A L1 ở b n Má Tiển, xã B n Lang, huyện Phong Thổ thấy gia đ nh anh L1 đã tắt điện đi ngủ, xung quanh không có ai qua lại. L và N đi vào trong cổng nhà anh L1 để quan sát. N và L nhìn thấy phía trước nhà anh L1 có 01 con trâu mẹ kho ng 12 tuổi và đư c buộc vào cột hiên nhà và 01 con trâu con, loại trâu đực, kho ng 01 tuổi đang đứng cạnh con trâu mẹ. L và N tiếp tục quan sát xung quanh thấy không có người nên L b o N đứng ở ngoài cổng nhà cạnh kho chứa củi của nhà anh L1 để canh gác người cho L đi vào dắt trộm trâu, N đồng ý. Sau đó L đi vào trong sân, dùng con dao nh n mang theo cắt đứt s i dây thừng đang buộc con trâu mẹ vào cột nhà rồi dắt trâu đi ra ngoài cổng, khi L dắt trâu mẹ đi thì con trâu con cũng đi theo sau con trâu mẹ (con trâu con không buộc dây). Thấy L đã dắt đư c 02 con trâu ra khỏi sân, N s có người phát hiện nên đã đi ra ngoài cổng nhà anh L1 để tiếp tục canh gác người. Khi L dắt đư c 02 con trâu đi ra ngoài đường đi trước, N đi theo sau để đuổi 02 con trâu đi theo đường mòn của b n Xin Ch i, xã Hoang Thèn sang b n Sàng C i, xã Mù Sang, huyện Phong Thổ để đem sang Trung Qu c bán lấy tiền chia nhau. Kho ng 07 giờ ngày 07/12/2019 L và N dắt, đuổi đư c 02 con trâu về đến khu bãi ruộng của b n T Lèng, xã Hoang Thèn. Do trời đã sáng, L và N không dám dắt đuổi trâu đi tiếp vì s bị phát hiện nên L và N buộc con trâu mẹ vào bụi cây ở bãi ruộng và th con trâu con đứng cạnh con trâu mẹ. Sau đó N dặn L ở lại trông coi 02 con trâu, L nhất trí, N đi về nhà N dự đám cưới ở gần nhà. L trông coi trâu đư c một lúc th đi vào lán ruộng không có người ở nằm ngủ.
Kho ng 16 giờ cùng ngày 07/12/2019 anh Vừ A Dơ là công an viên của b n T Lèng, xã Hoang Thèn đi đến khu vực ruộng mà N và Lử đang buộc, th 02 con trâu để tháo nước vào ruộng trồng cỏ voi của nhà Dơ, th gặp ông Vàng Cháng Phùa, cùng là công an viên của b n T Lèng, xã Hoang Thèn đi đến, thấy Dơ đi vào thăm ruộng trồng cỏ voi, Phùa đi theo cùng để xin gi ng cỏ voi đem về nhà trồng. Khi Phùa và Dơ đi đến bãi ruộng cỏ voi của nhà Dơ th thấy 01 con trâu mẹ kho ng 12 tuổi và 01 con trâu con (trâu đực), kho ng 01 tuổi, lông màu đen đang ăn cỏ ở bãi ruộng của nhà Dơ, Dơ và Phùa quan sát trâu nhưng không xác định đư c đó là trâu của nhà ai, lúc này có Giàng A N đi đến khu vực ruộng, Dơ hỏi N 02 con trâu này của ai do s bị phát hiện đã trộm cắp trâu nên N nói: “không biết là trâu của ai”, Phùa và Dơ nghĩ là trâu đi lạc đường nên đã dắt đuổi 02 con trâu về buộc ở bụi cây trước nhà Phùa rồi đi thông báo cho người dân và báo lên công an xã Hoang Thèn biết. Thấy Dơ và Phùa dắt, đuổi 02 con trâu đó đi, N không đi t m L nữa mà đi về nhà luôn để tránh bị phát hiện. Sau đó N và L bàn nhau không ai đư c nói cho người khác biết việc đã trộm cắp trâu của gia đ nh anh L1, L cũng tr lại cho N con dao nh n mà c hai dùng để đi trộm cắp.
Kho ng 07 giờ 30 ngày 07/12/2019 anh Tẩn A L1 phát hiện mất 02 con trâu (01 con trâu mẹ kho ng 12 tuổi và 01 con trâu con, loại trâu đực kho ng 01 tuổi) gia đ nh anh đã tổ chức đi t m nhưng không thấy nên g i điện báo cho công an viên biết. Đến trưa ngày 09/12/2019 gia đ nh ông Tẩn A L1 nhận đư c thông tin về việc anh Phùa và anh Dơ là công an viên đang giữ 02 con trâu có đặc điểm gi ng như 02 con trâu mà gia đ nh anh đã bị mất, nên anh L1 đến nhà anh Phùa để xem thì thấy đ ng là 02 con trâu của gia đ nh anh bị mất vào đêm ngày 06/12/2019, sau đó anh Tẩn A L1 nhận lại 02 con trâu. Do đã nhận đư c trâu nên gia đ nh anh L1 không báo cho Cơ quan chức N gi i quyết theo quy định.
Kho ng đầu tháng 4/2020 N thấy lực lư ng công an huyện Phong Thổ lên b n truy tìm L, nên s sẽ bị phát hiện, vì vậy vào hồi 07 giờ ngày 03/4/2020, Giàng A N đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phong Thổ đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp 02 con trâu cùng với Giàng A L. Giàng A L sau khi biết N đã đến Công an huyện Phong Thổ để khai nhận hành vi trộm cắp trâu cùng với mình, nên biết hành vi phạm tội của m nh đã bị công an phát hiện, do đó vào hồi 13 giờ 20 phút ngày 04/4/2020, Giàng A L đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phong Thổ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại b n kết luận giám định s : 37/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2020 của Hội đồng định giá tài s n huyện Phong Thổ kết luận: “Một con trâu cái, lông màu đen, 12 năm tuổi, sừng dài 60 cm, trọng lượng 250 kg hơi, không mang bầu, hoàn toàn khỏe mạnh, không dị tật, không bị bệnh gì”, tại thời điểm tháng 12/2019 có giá trị là: 25.000.000 đồng.
Kết luận: “Một con trâu đực, lông màu đen, 01 năm tuổi, sừng dài 15 cm, trọng lượng khoảng 80 kg hơi, hoàn toàn khỏe mạnh, không dị tật, không bị bệnh gì”, tại thời điểm tháng 12/2019 có giá trị là: 15.000.000 đồng. Như vậy tổng trị giá tài s n là 40.000.000 đồng.
Quá trình khởi t , điều tra và truy t Giàng A L đã bỏ tr n, đến ngày 14/8/2020 L bị bắt theo lệnh truy nã.
Về xác định độ tuổi của Giàng A L: Tại B n kết luận giám định độ tuổi s : 22/20/GĐT ngày 25/8/2020 của Viện pháp y qu c gia - Bộ y tế xác định: “Ngày 15/8/2020 Giàng A L (tên gọi khác: Giàng A Lử) có độ tuổi từ 17 năm 3 tháng đến 17 năm 9 tháng”. Như vậy, tại thời điểm L thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 06/12/2019, L có độ tuổi là từ 16 năm 06 tháng 21 ngày đến 17 năm 0 tháng 21 ngày.
Đ i với Giàng A N, quá tr nh điều tra xác định: Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp 02 con trâu nêu trên, N đã có 03 tiền án và tiền án lần thứ ba tại B n án s : 34/2011/HSST ngày 20/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã áp dụng điểm p (tái phạm nguy hiểm), kho n 2 điều 194; điểm p kho n 1 điều 46 BLHS năm 1999, xử phạt bị cáo Giàng A N 08 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Giàng A N đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 18/12/2017 và đã thi hành xong kho n án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 06/12/2019 Giàng A N thực hiện hành vi phạm tội do vậy bị cáo chưa đư c xóa án tích theo quy định tại điều 69, 70 - Bộ luật hình sự năm 2015 và theo quy định tại điểm b kho n 2 điều 53 LHS năm 2015, lần phạm tội này của Giàng A N thuộc trường h p “tái phạm nguy hiểm”.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 29/8/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao tr 02 con trâu cho anh Tẩn A L1. Đ i với 02 chiếc đèn pin loại đèn pin đội đầu, quá tr nh điều tra bị cáo N và L đã vứt bỏ chiếc đèn pin đã dùng trong ngày 06/12/2019, do đó không có căn cứ để thu giữ vật chứng vụ án.
Vật chứng còn lại là: 01 dao nh n cán bằng gỗ dài 31,4 cm, phần lưỡi dao dài 19,6 cm, chuôi dao dài 11,8 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 10 cm, phần cán dao gỗ đư c b c bằng sắt dài 1,8 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao rộng 3,2 cm, phần dày nhất của s ng dao dày 0,2 cm thu giữ của N.
Tại b n cáo trạng s : 54/CT - VKS Ngày 10/9/2020 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy t các bị cáo:
Giàng A N về tội “Trộm cắp tài s n” theo điểm g kho n 2 điều 173 - Bộ luật Hình sự.
Giàng A L về tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 điều 173 - Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy t đ i với các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm g kho n 2 Điều 173; Điểm s kho n 1, 2 điều 51; Điều 50; Điều 17; 58; Điều 38 - Bộ luật hình sự.
Tuyên b bị cáo Giàng A N phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào kho n 1 Điều 173; Điểm i, s kho n 1, 2; điều 50; Điều 51; Điều 17 ;58; Điều 90, 91, 98, 101 - Bộ luật hình sự.
Tuyên b bị cáo Giàng A L phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại kho n 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự đ i với bị cáo N. Căn cứ vào kho n 6 điều 91 - Bộ luật hình sự, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo Giàng A L.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đ nh anh Tẩn A L1 đã nhận lại 02 con trâu và tại phiên tòa anh L1 vắng mặt và có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm kho n nào khác. Về trách nhiệm hình sự bị hại đề nghị Tòa án gi i quyết theo quy định của pháp luật.
Đ i với người có quyền l i nghĩa vụ liên quan chị Lù Thị Quây là thành viên trong gia đ nh anh L1 cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm kho n nào khác nên không ph i gi i quyết.
Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 - Bộ luật hình sự; điều 106 - Bộ luật t tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 dao nh n cán bằng gỗ thu giữ của Giàng A N.
+ Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho c hai bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo: Về tội danh và điều luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đ i với hai bị cáo Người bào chữa không có ý kiến gì, tuy nhiên mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát còn nghiêm khắc. Bởi tài s n mà các bị cáo trộm cắp đã đư c tr lại cho bị hại chưa gây ra thiệt hại. B n thân bị cáo Giàng A L không có tiền án tiền sự, là người chưa thành niên phạm tội, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần nên thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo là người dân tộc thiểu s s ng ở khu vực đặc biệt khó khăn, b n thân nhận thức pháp luật còn hạn chế. Về vai trò đồng phạm là gi n đơn không có sự tính toán từ trước, đ i với bị cáo N đã ra Công an huyện Phong Thổ tự thú về hành vi phạm tội của mình, bị cáo L đã đầu thú tại Công an huyện Phong Thổ. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng kho n 1 điều 173; điểm i, s, h kho n 1, 2 điều 51; Điều 17, 58; Điều 90, 91, 98, 101 - Bộ luật hình sự. Đề nghị xem xét mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đ i với bị cáo Giàng A L. Đ i với bị cáo Giàng A N đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g kho n 2 điều 173; điểm r, s, h kho n 1, 2 điều 51; Điều 17, 58 - Bộ luật hình sự. Đề nghị xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo Giàng A N và không áp dụng hình phạt bổ sung cho c hai bị cáo, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Các bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm nhất trí với b n luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của c hai bị cáo: Các bị cáo biết hành vi trộm cắp tài s n của người khác là vi phạm pháp luật và hứa c i tạo thành công dân có ích cho xã hội, rất mong Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH C A H I ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra truy t , đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng, người bào chữa trong giai đoạn xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng, người bào chữa đã thực hiện đều h p pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của các bị cáo trong quá tr nh điều tra, truy t , phù h p với lời khai của bị hại, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù h p với vật chứng cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, vì vậy có đủ cơ sở khẳng định như sau:
Kho ng 23 giờ 00 phút ngày 06/12/2019 Giàng A L và Giàng A N đi đến nhà anh Tẩn A L1 trộm cắp tài s n. Trong đêm t i gia đ nh nhà anh L1 đi ngủ, xung quanh không có ai. N đã đứng ở cổng nhà anh L1 để c nh giới, L đã lén l t đi vào trong sân nhà anh L1 dùng dao cắt đứt s i dây thừng buộc con trâu và dắt hai con trâu nhà anh L1 ra khỏi khu vực nhà anh L1, N đi sau đuổi hai con trâu hỗ tr cho L, sau đó hai người đuổi dắt hai con trâu đi theo đường mòn b n Xin Ch i, xã Hoang Then để đem sang Trung Qu c bán. Tuy nhiên c hai chưa thực hiện đư c hành vi bán hai con trâu đó th bị phát hiện. Tại b n kết luận giám định s : 37/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2020 của Hội đồng định giá tài s n huyện Phong Thổ kết luận: Tổng giá trị của 02 con trâu là 40.000.000 đồng. Xét về vai trò đồng phạm của các bị cáo th đây là vụ án đồng phạm gi n đơn, bị cáo L giữ vai trò chính trong vụ án này, là người rủ rê, tích cực tìm công cụ cùng bị cáo N để thực hiện hành vi phạm tội. Đ i với N giữ vai trò đồng phạm giúp sức cho L thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên bị cáo Giàng A N đã có 03 tiền án và tại b n án s : 34/2011/HSST ngày 20/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã áp dụng điểm p (tái phạm nguy hiểm), kho n 2 điều 194 - BLHS năm 1999, xử phạt bị cáo Giàng A N 08 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Giàng A N đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 18/12/2017 và đã thi hành xong kho n án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 06/12/2019 Giàng A N thực hiện hành vi phạm tội do vậy bị cáo chưa đư c xóa án tích theo quy định tại điều 69, 70 - Bộ luật hình sự năm 2015 và theo quy định tại điểm b kho n 2 điều 53 LHS năm 2015, lần phạm tội này của Giàng A N thuộc trường h p “tái phạm nguy hiểm”. Như vậy hành vi của bị cáo N đã đủ yếu t cấu thành tội: “ Trộm cắp tài s n” theo quy định tại điểm g kho n 2 điều 173 - Bộ luật hình sự. Bị cáo L là vai trò chính trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài s n của người khác có trị giá là 40.000.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo L đã đủ yếu t cấu thành tội: “ Trộm cắp tài s n” theo quy định tại kho n 1 điều 173 - Bộ luật hình
[3] Đánh giá hành vi của các bị cáo HĐXX nhận thấy:
Các bị cáo nhận thức đư c hành vi chiếm đoạt tài s n của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo coi thường pháp luật vẫn c ý thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo l i dụng bị hại đi ngủ không có người trông coi tài s n để chiếm đoạt tài s n, giá trị tài s n chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá huyện Phong Thổ kết luận: Tổng giá trị của 02 con trâu là 40.000.000 đồng. Đ i với hành vi phạm tội của bị cáo N lần này thuộc trường h p “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g kho n 2 điều 173 - Bộ luật hình sự. Bị cáo L đã đủ yếu t cấu thành tội: “ Trộm cắp tài s n” theo quy định tại kho n 1 điều 173 - Bộ luật hình. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu truy t các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ đ ng quy định của pháp luật.
[4] Đánh giá về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Đ i với bị cáo Giàng A N thực hiện hành vi phạm tội là nghiêm tr ng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu h p pháp của người khác là khách thể đư c Bộ luật hình sự b o vệ.
Đ i với bị cáo Giàng A L HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường h p ít nghiêm tr ng. Tại thời điểm phạm tội Giàng A L mới đủ 16 tuổi 06 tháng 21 ngày ở độ tuổi chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, dễ bị tác động, sự nhận thức hiểu biết về pháp luật chưa đư c đầy đủ, chưa thấy hết đư c hành vi mà bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật.
[5] Tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo đều cân nhắc các hành vi phạm tội của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g kho n 2 điều 173; điểm r, s, h kho n 1, 2 điều 51; Điều 17, 58 - Bộ luật hình sự đ i với bị cáo N, đề nghị áp dụng kho n 1 điều 173; điểm i, s, h kho n 1, 2 điều 51; Điều 17, 58; Điều 90, 91, 98, 101 - Bộ luật hình sự đ i với bị cáo L. Việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết quy định tại điểm r, h đ i với bị cáo N và điểm h đ i với bị cáo L là không có căn cứ pháp luật. Đề nghị mức hình phạt thấp nhất đ i với bị cáo L là chưa phù h p với hành vi phạm tội mà bị cáo Giàng A L đã gây ra nên HĐXX không chấp nhận. Còn đ i với bị cáo N người bào chữa đề nghị xem xét gi m nhẹ hình phạt, HĐXX xem xét cân nhắc mức hình phạt phù h p với hành vi phạm tội của bị cáo N.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: C hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Xét về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ đầu thú về hành vi phạm tội của mình và các bị cáo s ng ở khu vực đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo đư c hưởng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự đư c quy định tại các điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự. Đ i với bị cáo L phạm tội lần đầu thuộc trường h p ít nghiêm tr ng nên bị cáo đư c áp dụng điểm i kho n 1 điều 51 - Bộ luật hình sự.
[8] Xét về nhân thân: Bị cáo N đã có 03 tiền án về các tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma t y” và tội “ Trộm cắp tài s n”. ị cáo lại tiếp tục phạm tội lần này và bị truy t theo quy định tại điểm g kho n 2 điều 173 - BLHS. Bị cáo phạm tội hết lần này đến lần khác, không chịu tu dưỡng rèn luyện b n thân là người nghiện chất ma túy, và trong thời gian tại ngoại bị cáo bị Cơ quan điều tra bắt qu tang về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma t y” cho thấy bị cáo là người liên tục thực hiện hành vi phạm tội. Nên cần ph i có một mức án nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo. Đ i với bị cáo L chưa có tiền án tiền sự, tuy nhiên bị cáo đang bị Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ điều tra về hành vi: “Trộm cắp tài s n” ở vụ án khác, quá trình tại ngoại bị cáo đã bỏ tr n sau đó bị bắt theo Quyết định truy nã, b n thân lười lao động mu n có tiền tiêu sài nên bị cáo đã rủ rê bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cũng cần có một mức án nghiêm khắc để c i tạo giáo dục bị cáo, ph i cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện hoàn c nh kinh tế của bị cáo N còn khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại kho n 5 điều 173 Bộ luật hình sự là hình phạt tiền đ i với bị cáo. Đ i với bị cáo L căn cứ vào kho n 6 điều 91 - Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài s n và vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xét xử vắng mặt nội dung không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm kho n nào khác, nên Hội đồng xét xử không đề cập gi i quyết.
Người có quyền l i nghĩa vụ liên quan chị Lù Thị Quây có đơn xin xét xử vắng mặt nội dung không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm kho n nào khác, nên Hội đồng xét xử không đề cập gi i quyết.
[11] Về vật chứng: 01 dao nh n cán bằng gỗ thu giữ của Giàng A N là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[12]Các vấn đề khác: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điều 50 - Bộ luật hình sự, xét thấy điều 50 - LHS là điều luật quy định các căn cứ để quyết định hình phạt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng điều 50 - BLHS.
[13] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu s s ng ở khu vực đặc biệt khó khăn theo Quyết định s : 582/QĐ - TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu s miền núi tỉnh Lai Châu, tại phiên tòa c hai bị cáo đều đề nghị HĐXX xem xét miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo, nên HĐXX miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho c hai bị cáo.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về Hình phạt:
Căn cứ điểm g kho n 2 Điều 173; Điểm s kho n 1, kho n 2 điều 51; Điều; Điều 17, 58; Điều 38 - Bộ Luật hình sự.
Tuyên b bị cáo Giàng A N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Giàng A N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo đư c khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 03/4/2020 đến ngày 12/4/2020).
Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo đư c tính từ ngày 25/6/2020.
Căn cứ kho n 1 Điều 173; Điểm i, s kho n 1, kho n 2 điều 51; Điều 17, 58; Điều 90, 91,101 - Bộ Luật hình sự.
Tuyên b bị cáo Giàng A L (tên g i khác Giàng A Lử) phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Giàng A L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo đư c khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 04/4/2020 đến ngày 13/4/2020).
Thời hạn thi hành hình phạt tù bị cáo đư c tính từ ngày 15/8/2020.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a kho n 1 điều 47- Bộ luật hình sự và điểm a kho n 2 điều 106 - Bộ luật t tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 dao nh n cán bằng gỗ thu giữ của Giàng A N.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2020 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ kho n 1 điều 12 Nghị quyết s : 326/2016/U TVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho c hai bị cáo.
4. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người đại diện h p pháp của bị cáo Giàng A L, người bào chữa cho bị cáo Giàng A L đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu. Bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan chị Lù Thị Quây có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c b n án hoặc ngày b n án đư c niêm yết theo quy định của pháp luật./.
THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN
H I ĐỒNG XÉT XỬ
CH TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Phƣơng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS tỉnh, huyện ; - THA dân sự huyện ; - CQTHA PT; CQĐT CA huyện - Các bị cáo; Người ĐDHP của bị cáo - Người bào chữa - Bị hại, người có QLNVLQ; - Sở Tư pháp; - Lưu: HS - TA. | TM. H I ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CH TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phƣơng |