vanban.org

Bản án 56

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Hồ Di T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Áp dụng điểm b khoản 1 điều 173; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo: Hồ Di T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2020. [3]. Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự và điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Hồ Di Thuận phải bồi thường cho bà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hồ Di Thuận - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Hồ Di T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TßA ¸N NH©N D©N
HUYỆN D
tØnh l©m ®ång

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________________
B¶n ¸n sè: 56/2020/HSST
Ngµy : 06/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Bà TRẦN THỊ HOA;

2/. Bà LÊ THỊ CHUNG.

- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN NGỌC THẮNG - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông LÊ VĂN THỌ - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 06 tháng 11 năm 2020. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2020/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐ-HSST ngày 23 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: HỒ DI T. Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1985. Nơi sinh: Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện D, Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Không. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 7/12. Con ông: Hồ Viết S, sinh năm 1954. Hiện ở tại: Thôn T, xã Đ, huyện D, Lâm Đồng; Con bà: Bùi Thị N (chết). Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1993, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015. Hiện ở tại: Đông Xuân, Kỳ Tây, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

Tiền án: Tại bản án số 44/2017/HSST ngày 27/10/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/7/2019 nhưng chưa được xóa án tích đối với bản án này;

Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 03/QĐ/X ngày 21/02/2016 Công an huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 1.500.000đ vì đã có hành vi: Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa nộp phạt đối với quyết định này.

Nhân thân: Tại bản án số: 05/2013/HSST ngày 28/01/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo (được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 27/10/2012 đến ngày 27/12/2012), thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, chấp hành xong ngày 17/02/2014.

Bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã ngày 22/9/2020 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện D, Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Bùi T, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: thôn Đ3, xã Đ, huyện D, Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vũ Hoàng T, sinh năm 1991. Nơi cư trú: thôn T1, xã Đ, huyện Di Linh, Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, Vào khoảng 14h00 ngày 25/12/2019 Hồ Di T điều khiển xe mô tô không rõ biển số đi một mình từ chợ xã Đ về nhà. Khi đi ngang qua hội trường thôn Đ3, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thì thấy các bao quả cà phê tươi của gia đình ông Bùi T đang để ở sân và không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp cà phê bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, T điều khiển xe mô tô chạy vào sân hội trường thôn Đ 3 đến cách vị trí các bao quả cà phê 01m thì dừng xe, T vác 01 bao cà phê để lên xe mô tô và điều khiển xe chạy đến đại lý thu mua cà phê Hải Thủy gặp bà Vũ Hoàng T cân được 47kg và bán được 305.000 đồng. Sau khi bán xong T tiếp tục điều khiển xe mô tô quay lại hội trường thôn Đ3 tiếp tục vác thêm 01 bao cà phê để lên xe mô tô và chở đến đại lý thu mua cà phê Hải Thủy cân được 48,7kg và bán được 310.000 đồng. Ngày 25/5/2020, Cơ quan điều tra triệu tập T lên làm việc. Tại cơ quan điều tra, Hồ Di T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐG ngày 17/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 95,7kg cà phê quả tươi tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt của bị hại Bùi T trị giá 669.900 đồng.

Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 12/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo Hồ Di T, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Di T khai nhận vào ngày 25/12/2019, bị cáo đã có hành vi lợi dụng bao quả cà phê của ông Bùi T để ở sân không có người trông coi, bị cáo đã đột nhập vào sân, trộm cắp 02 bao quả cà phê của ông Bùi T trị giá 669.900 đồng để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thừa nhận đã thực hiện các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng và không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo Hồ Di T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo thực hiện việc lén lút chiếm đoạt tài sản 95,7 kg quả cà phê tươi, trị giá 669.900 đồng trong khi bị cáo đã có 01 tiền án cùng về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích và 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản chưa được coi là chưa có tiền sự, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Hồ Di T phạm tội trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 173, điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hồ Di T từ 09 đến 12 tháng tù.

Phần bồi thường: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Vũ Hoàng T yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 615.000 (sáu trăm mười lăm nghìn) đồng bà T đã mua quả cà phê của bị cáo xét là hợp pháp đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường số tiền trên cho bà T.

Bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện D, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Di T: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng người bị hại mất cảnh giác và chủ quan trong việc quản lý tài sản, mặc dù đã có đã có 01 tiền án cùng về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích và 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản chưa được coi là chưa có tiền sự nhưng bị cáo đã lén lút để chiếm đoạt tài sản là 95,7 kg quả cả phê tươi trị giá 669.900 đồng với mục đích để bán lấy tiền sử dụng cho nhu cầu cá nhân, là hành vi trái pháp luật, xâm hại trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Trong quá trình điều tra bị cáo bỏ đi khỏi nơi cư trú bị công an bắt theo quyết định truy nã. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hồ Di T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm đối với bị cáo được qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố và Kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Trong vụ án này có bà Vũ Hoàng T là người mua quả cà phê từ bị cáo nhưng quá trình điều tra xác định khi mua bà Thương không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Vũ Thị T trong vụ án này.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo trộm cắp tài sản chỉ có trị giá 669.900 đồng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội liên tục trong khoảng thời gian ngắn nên không thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, không vi phạm vào tình tiết định khung tăng nặng nào theo qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt nào theo qui định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án cùng về tội Trộm cắp tài sản, mới chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, 01 tiền sự chưa được coi là chưa có tiền sự, bị bắt theo quyết định truy nã và không có công việc làm ổn định. Xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục giáo dục và cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cho đến nay người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, xét là tự nguyện nên không xem xét để giải quyết phần trách nhiệm dân sự đối với người bị hại trong bản án này.

Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Vũ Hoàng T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 615.000đ do bà đã bỏ tiền mua quả cà phê từ bị cáo xét là hợp pháp cần buộc bị cáo phải hoàn trả.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Hồ Di T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Áp dụng điểm b khoản 1 điều 173; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo: Hồ Di T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2020.

[3]. Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự và điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Hồ Di Thuận phải bồi thường cho bà Vũ Hoàng T 615.000 (sáu trăm mười lăm nghìn) đồng.

Căn cứ điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, kể từ ngày bên được thi hành án dân sự có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi khi hành xong khoản tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chưa được thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ