vanban.org

Bản án 56/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trần Lương Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Lương Đ - Trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Lương Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2026/HS-ST
Ngày: 22/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Đàn.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Văn Quý, bà Lê Thị Hà.

Thư ký phiên tòa: ông Phan Khắc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Lâm Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2026/QĐXXST - HS ngày 09/4/2026, đối với bị cáo:

Trần Lương Đ; giới tính: nam; sinh ngày 04/5/1995 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố D, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Lương Ứ và bà Nguyễn Thị M; vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2016, 2019;

Tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 27/02/2024, bị Toà án nhân dân thành phố Đông Hà (cũ), tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 27/11/2024;

Nhân thân:

- Ngày 28/05/2020, bị Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố Đ (cũ), tỉnh Quảng Trị ra Quyết định số 96/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xa, phường, thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong ngày 29/8/2020;

- Ngày 22/09/2021, bị Công an phường Đ, thành phố Đ (cũ), tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 18/10/2021).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 14 tháng 01 năm 2026, có mặt;

- Bị hại: chị Trần Thị Phương T1, sinh năm 1991; địa chỉ: 1 Bà T, khu phố A, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 15/11/2025, Trần Lương Đ đi bộ đến nhà người quen ở đường B, phường Đ, tỉnh Quảng Trị để chơi. Đ nhìn thấy tầng 2 nhà chị Trần Thị Phương T1 cửa hông không đóng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đ đi vào ngôi nhà đang xây cạnh bên rồi đi lên tầng 2, trèo qua lan can đột nhập vào nhà chị T1, đi vào phòng ngủ lấy trộm 01 điện thoại di động Oppo A17, 01 con heo nhựa (Đ lắc thì biết bên trong có tiền) rồi tẩu thoát ra ngoài, vừa đi được khoảng 20 mét thì bị Tổ công tác Công an phường Đ phát hiện, bắt giữ cùng tang vật vụ án. Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTS ngày 18/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản phường Đ, tỉnh Quảng Trị kết luận:

- 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17 đã qua sử dụng có trị giá 1.400.000 đồng;

- 01 heo nhựa có trị giá 22.000 đồng, bên trong có 983.000 đồng.

Cáo trạng số 19/CT-VKSKV5 ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, tỉnh Quảng Trị truy tố Trần Lương Đ tội "Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Lương Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 08 đến 10 tháng tù.

- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại gì.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Lương Đ khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, nội dung lời khai phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có căn cứ khẳng định: ngày 15/11/2025, lợi dụng sơ hở của chủ sở hửu tài sản, Trần Lương Đ đã lén lút chiếm đoạt của chị Trần Thị Phương T1 01 điện thoại di động Appo A17, 01 heo nhựa bên trong có 983.000 đồng, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.405.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Lương Đ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Hành vi phạm tội của Trần Lương Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nay phạm tội do cố ý, theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLHS bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; bị cáo có nhân thân xấu. Cần xử phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên thấy rằng, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, có thái độ thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Bị hại chị Trần Thị Phương T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tiếp tục ra quyết định tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày để bảo đảm thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Trần Lương Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Lương Đ 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/01/2026.

3. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Lương Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ